Phần thứ ba. THỦ TỤC GIẢI
QUYẾT VỤ ÁN TẠI TÒA ÁN CẤP PHÚC THẨM
Chương XV. TÍNH CHẤT CỦA
XÉT XỬ PHÚC THẨM VÀ KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN CẤP SƠ
THẨM
Điều 270. Tính
chất của xét xử phúc thẩm
Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp phúc thẩm trực
tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu
lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị.
Toc
- 1. Phần thứ ba. THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN TẠI TÒA ÁN CẤP PHÚC THẨM
- 2. Phần thứ tư. GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ THEO THỦ TỤC RÚT GỌN
- 3. Phần thứ năm. THỦ TỤC XÉT LẠI BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH ĐÃ CÓ HIỆU LỰC PHÁP LUẬT
- 4. Related articles 01:
- 5. Phần thứ sáu. THỦ TỤC GIẢI
QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
- 5.1. Chương XXIII. QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
- 5.2. Chương XXIV. THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU TUYÊN BỐ MỘT NGƯỜI MẤT NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ, BỊ HẠN CHẾ NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ HOẶC CÓ KHÓ KHĂN TRONG NHẬN THỨC, LÀM CHỦ HÀNH VI
- 5.3. Chương XXV. THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU THÔNG BÁO TÌM KIẾM NGƯỜI VẮNG MẶT TẠI NƠI CƯ TRÚ
- 5.4. Chương XXVI. THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU TUYÊN BỐ MỘT NGƯỜI MẤT TÍCH
- 5.5. Chương XXVII. THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU TUYÊN BỐ MỘT NGƯỜI LÀ ĐÃ CHẾT
- 5.6. Chương XXVIII. THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN, THỎA THUẬN NUÔI CON, CHIA TÀI SẢN KHI LY HÔN
- 5.7. Chương XXIX. THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU TUYÊN BỐ VĂN BẢN CÔNG CHỨNG VÔ HIỆU
- 5.8. Chương XXX. THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU TUYÊN BỐ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÔ HIỆU; THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ VÔ HIỆU
- 5.9. Chương XXXI. THỦ TỤC XÉT TÍNH HỢP PHÁP CỦA CUỘC ĐÌNH CÔNG
- 5.10. Chương XXXII. THỦ TỤC GIẢI QUYẾT CÁC VIỆC DÂN SỰ LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
- 5.11. Chương XXXIII. THỦ TỤC CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH NGOÀI TÒA ÁN
- 5.12. Chương XXXIV. THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC BẮT GIỮ TÀU BAY, TÀU BIỂN
- 6. Phần thứ bảy. THỦ TỤC CÔNG
NHẬN VÀ CHO THI HÀNH TẠI VIỆT NAM HOẶC KHÔNG CÔNG NHẬN BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH DÂN
SỰ CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI; CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI
NƯỚC NGOÀI
- 6.1. Chương XXXV. QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỦ TỤC CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH TẠI VIỆT NAM HOẶC KHÔNG CÔNG NHẬN BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI; CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI
- 6.2. Chương XXXVI. THỦ TỤC XÉT ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH TẠI VIỆT NAM BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI; THỦ TỤC XÉT ĐƠN YÊU CẦU KHÔNG CÔNG NHẬN BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI
- 6.3. Mục 1. THỦ TỤC XÉT ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH TẠI VIỆT NAM BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI
- 7. Related articles 02:
- 7.1. Mục 2. THỦ TỤC XÉT ĐƠN YÊU CẦU KHÔNG CÔNG NHẬN BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI
- 7.2. Mục 3. THỦ TỤC YÊU CẦU KHÔNG CÔNG NHẬN BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI KHÔNG CÓ YÊU CẦU THI HÀNH TẠI VIỆT NAM
- 7.3. Chương XXXVII. THỦ TỤC XÉT ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH TẠI VIỆT NAM PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI
- 8. Phần thứ tám. THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
- 9. Phần thứ chín. THI HÀNH BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN
- 10. Phần thứ mười. XỬ LÝ HÀNH VI CẢN TRỞ HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG DÂN SỰ; KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
Điều 271. Người
có quyền kháng cáo
Đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ
quan, tổ chức, cá nhân khởi
kiện có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định
đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm
giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.
Điều 272. Đơn
kháng cáo
1. Khi thực hiện quyền kháng cáo, người kháng cáo
phải làm đơn kháng cáo. Đơn kháng cáo phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm làm đơn kháng cáo;
b) Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư
điện tử (nếu có) của người kháng cáo;
c) Kháng cáo toàn bộ hoặc phần của bản án, quyết định của
Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật;
d) Lý do của việc kháng cáo và yêu cầu của người
kháng cáo;
đ) Chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo.
2. Người kháng cáo là cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân
sự có thể tự mình làm đơn kháng cáo. Tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo
trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử
(nếu có) của người kháng
cáo. Ở phần cuối đơn kháng cáo, người kháng cáo phải ký tên hoặc điểm chỉ.
3. Người kháng cáo quy định tại khoản 2 Điều này nếu không tự mình
kháng cáo thì có thể ủy quyền cho người khác đại diện cho mình kháng cáo. Tại
mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ của
người đại diện theo ủy quyền của người kháng cáo, của người kháng cáo ủy quyền kháng
cáo; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người kháng cáo ủy
quyền kháng cáo và văn bản ủy quyền. Ở phần cuối đơn kháng cáo, người đại diện
theo ủy quyền phải ký tên hoặc điểm chỉ.
4. Người đại diện theo pháp luật của đương sự là cơ
quan, tổ chức có thể tự mình làm đơn kháng cáo. Tại mục tên, địa chỉ của người
kháng cáo trong đơn phải ghi tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện
tử (nếu có) của đương sự là cơ quan, tổ chức; họ, tên, chức vụ của người đại
diện theo pháp luật của đương sự là cơ quan, tổ chức. Ở phần cuối đơn kháng
cáo, người đại diện theo pháp luật phải ký tên và đóng dấu của cơ quan, tổ chức
đó, trường hợp doanh nghiệp kháng cáo thì việc sử dụng con dấu theo quy định
của Luật doanh nghiệp.
Trường hợp người đại diện theo pháp luật của cơ
quan, tổ chức ủy quyền cho người khác kháng cáo thì tại mục tên, địa chỉ của
người kháng cáo trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ của người đại diện theo ủy
quyền, của đương sự là cơ quan, tổ chức ủy quyền; số điện thoại, fax, địa chỉ
thư điện tử (nếu có) của đương sự là cơ quan, tổ chức ủy quyền; họ, tên, chức
vụ của người đại diện theo pháp luật của đương sự là cơ quan, tổ chức đó và văn
bản ủy quyền. Ở phần cuối đơn kháng cáo, người đại diện theo ủy quyền phải ký
tên hoặc điểm chỉ.
5. Người đại diện theo pháp luật của đương sự là
người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự có thể tự mình làm đơn
kháng cáo. Tại mục tên, địa chỉ của người kháng cáo trong đơn phải ghi họ, tên,
địa chỉ của người đại diện theo pháp luật; họ, tên, địa chỉ của đương sự là
người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự. Ở phần cuối đơn kháng
cáo, người đại diện theo pháp luật phải ký tên hoặc điểm chỉ.
Trường hợp người đại diện theo pháp luật của đương
sự ủy quyền cho người khác đại diện cho mình kháng cáo thì tại mục tên, địa chỉ
của người kháng cáo trong đơn phải ghi họ, tên, địa chỉ của người đại diện theo
ủy quyền và văn bản ủy quyền; họ, tên, địa chỉ của người đại diện theo pháp
luật của đương sự ủy quyền; họ, tên, địa chỉ của đương sự là người chưa thành
niên, người mất năng lực hành vi dân sự. Ở phần cuối đơn kháng cáo, người đại
diện theo ủy quyền phải ký tên hoặc điểm chỉ.
6. Việc ủy quyền quy định tại các khoản 3, 4 và 5
Điều này phải được làm thành văn bản có công chứng, chứng thực hợp pháp, trừ
trường hợp văn bản ủy quyền đó được lập tại Tòa án có sự chứng kiến của Thẩm
phán hoặc người được Chánh án Tòa án phân công. Trong văn bản ủy quyền phải có
nội dung đương sự ủy quyền cho người đại diện theo ủy quyền kháng cáo bản án,
quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm.
7. Đơn kháng cáo phải được gửi cho Tòa án cấp sơ
thẩm đã ra bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo. Trường hợp đơn kháng cáo
được gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm thì Tòa án đó phải chuyển cho Tòa án cấp sơ
thẩm để tiến hành các thủ tục cần thiết theo quy định của Bộ luật này.
8. Kèm theo đơn kháng cáo, người kháng cáo phải gửi
tài liệu, chứng cứ bổ sung (nếu có) để chứng minh cho kháng cáo của mình là có
căn cứ và hợp pháp.
Điều 273. Thời
hạn kháng cáo
1. Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp
sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá
nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án
mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá
nhân khởi kiện đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án
mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án.
2. Thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm đình
chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, kể từ ngày đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân
khởi kiện nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm
yết theo quy định của Bộ luật này.
3. Trường hợp đơn kháng cáo được gửi qua dịch vụ
bưu chính thì ngày kháng cáo được xác định căn cứ vào ngày tổ chức dịch vụ bưu
chính nơi gửi đóng dấu ở phong bì. Trường hợp người kháng cáo đang bị tạm giam
thì ngày kháng cáo là ngày đơn kháng cáo được giám thị trại giam xác nhận.
Điều 274. Kiểm
tra đơn kháng cáo
1. Sau khi nhận được đơn kháng cáo, Tòa án cấp sơ
thẩm phải kiểm tra tính hợp lệ của đơn kháng cáo theo quy định tại Điều 272 của
Bộ luật này.
2. Trường hợp đơn kháng cáo quá hạn thì Tòa án cấp
sơ thẩm yêu cầu người kháng cáo trình bày rõ lý do và xuất trình tài liệu,
chứng cứ (nếu có) để chứng minh lý do nộp đơn kháng cáo quá hạn là chính đáng.
3. Trường hợp đơn kháng cáo chưa đúng quy định tại
Điều 272 của Bộ luật này thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu người kháng cáo làm lại
hoặc sửa đổi, bổ sung đơn kháng cáo.
4. Tòa án trả lại đơn kháng cáo trong các trường
hợp sau đây:
a) Người kháng cáo không có quyền kháng cáo;
b) Người kháng cáo không làm lại đơn kháng cáo hoặc
không sửa đổi, bổ sung đơn kháng cáo theo yêu cầu của Tòa án quy định tại khoản
3 Điều này.
c) Trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 276 của Bộ
luật này.
Điều 275. Kháng
cáo quá hạn và xem xét kháng cáo quá hạn
1. Kháng cáo quá thời hạn quy định tại Điều 273 của
Bộ luật này là kháng cáo quá hạn. Sau khi nhận được đơn kháng cáo quá hạn, Tòa
án cấp sơ thẩm phải gửi đơn kháng cáo, bản tường trình của người kháng cáo về
lý do kháng cáo quá hạn và tài liệu, chứng cứ (nếu có) cho Tòa án cấp phúc
thẩm.
2. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được đơn
kháng cáo quá hạn và tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án cấp phúc thẩm thành
lập Hội đồng gồm ba Thẩm phán để xem xét kháng cáo quá hạn. Phiên họp xem xét
kháng cáo quá hạn phải có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp và người kháng cáo quá
hạn. Trường hợp người
kháng cáo, Kiểm sát viên vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên
họp.
3. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có liên quan đến
việc kháng cáo quá hạn, ý kiến của người kháng cáo quá hạn, đại diện Viện kiểm
sát tại phiên họp, Hội đồng xét kháng cáo quá hạn quyết định theo đa số về việc
chấp nhận hoặc không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn và phải ghi rõ lý do của
việc chấp nhận hoặc không chấp nhận trong quyết định. Tòa án cấp phúc thẩm phải
gửi quyết định cho người kháng cáo quá hạn, Tòa án cấp sơ thẩm và Viện kiểm sát
cùng cấp; nếu Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận việc kháng cáo quá hạn thì Tòa án
cấp sơ thẩm phải tiến hành các thủ tục do Bộ luật này quy định.
Điều 276. Thông
báo nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm
1. Sau khi chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ, Tòa án
cấp sơ thẩm phải thông báo cho người kháng cáo biết để họ nộp tiền tạm ứng án
phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật, nếu họ không thuộc trường hợp được
miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm.
2. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được
thông báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, người kháng cáo
phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm và nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm biên lai thu tiền tạm ứng án
phí phúc thẩm. Hết
thời hạn này mà người kháng cáo không nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm thì
được coi là từ bỏ việc kháng cáo, trừ trường hợp có lý do chính đáng.
Trường hợp sau khi hết thời hạn 10 ngày, kể từ ngày
nhận được thông báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, người
kháng cáo mới nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm mà không nêu rõ lý do
thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu người kháng cáo trong thời hạn 03 ngày làm việc,
kể từ ngày nhận được yêu cầu của Tòa án phải có văn bản trình bày lý do chậm
nộp biên lai thu tiền
tạm ứng án phí phúc thẩm nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm để đưa vào hồ sơ vụ án.
Trường hợp này được xử lý theo thủ tục xem xét kháng cáo quá hạn.
Điều 277. Thông
báo về việc kháng cáo
1. Sau khi chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ, Tòa án
cấp sơ thẩm phải thông báo ngay bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp và
đương sự có liên quan đến kháng cáo biết về việc kháng cáo kèm theo bản sao đơn
kháng cáo, tài liệu, chứng cứ bổ sung mà người kháng cáo gửi kèm đơn kháng cáo.
2. Đương sự có liên quan đến kháng cáo được thông báo
về việc kháng cáo có quyền gửi văn bản nêu ý kiến của mình về nội dung kháng
cáo cho Tòa án cấp phúc thẩm. Văn bản nêu ý kiến của họ được đưa vào hồ sơ vụ
án.
Điều 278. Kháng
nghị của Viện kiểm sát
Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực
tiếp có quyền kháng nghị bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết
định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm
giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.
Điều 279. Quyết
định kháng nghị của Viện kiểm sát
1. Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát phải
bằng văn bản và có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định kháng nghị và số
của quyết định kháng nghị;
b) Tên của Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị;
c) Kháng nghị toàn bộ hoặc phần của bản án, quyết
định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật;
d) Lý do của việc kháng nghị và yêu cầu của Viện
kiểm sát;
đ) Họ, tên của người ký quyết định kháng nghị và
đóng dấu của Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị.
2. Quyết định kháng nghị phải được gửi ngay cho Tòa
án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng nghị để Tòa án cấp sơ
thẩm tiến hành các thủ tục do Bộ luật này quy định và gửi hồ sơ vụ án cho Tòa
án cấp phúc thẩm theo quy định tại Điều 283 của Bộ luật này.
3. Kèm theo quyết định kháng nghị là tài liệu,
chứng cứ bổ sung (nếu có) để chứng minh cho kháng nghị của Viện kiểm sát là có
căn cứ và hợp pháp.
Điều 280. Thời
hạn kháng nghị
1. Thời hạn kháng nghị đối với bản án của Tòa án
cấp sơ thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên
trực tiếp là 01 tháng, kể từ
ngày tuyên án. Trường hợp Kiểm sát viên không tham gia phiên tòa thì thời hạn
kháng nghị tính từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản án.
2. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp
đối với quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa
án cấp sơ thẩm là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 10 ngày, kể
từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được quyết định.
3. Khi Tòa án nhận được quyết định kháng nghị của
Viện kiểm sát mà quyết định kháng nghị đó đã quá thời hạn quy định tại khoản 1
và khoản 2 Điều này thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu Viện kiểm sát giải thích
bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Điều 281. Thông
báo về việc kháng nghị
1. Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị phải gửi
ngay quyết định kháng nghị cho đương sự có liên quan đến kháng nghị.
2. Người được thông báo về việc kháng nghị có quyền
gửi văn bản nêu ý kiến của mình về nội dung kháng nghị cho Tòa án cấp phúc
thẩm. Văn bản nêu ý kiến của họ được đưa vào hồ sơ vụ án.
Điều 282. Hậu
quả của việc kháng cáo, kháng nghị
1. Bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc
những phần bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị
kháng cáo, kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp pháp luật
quy định cho thi hành ngay.
2. Bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc
những phần bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không
bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì có hiệu lực pháp luật kể từ
ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Điều 283. Gửi
hồ sơ vụ án và kháng cáo, kháng nghị
Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi hồ sơ vụ án, đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị và
tài liệu, chứng cứ bổ sung kèm theo cho Tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn 05
ngày làm việc, kể từ ngày:
1. Hết thời hạn kháng nghị;
2. Hết thời hạn kháng cáo, người kháng cáo đã nộp
cho Tòa án cấp sơ thẩm biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm.
Điều 284. Thay
đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị
1. Trường hợp chưa hết thời hạn kháng cáo theo quy
định tại Điều 273 của Bộ luật này thì người đã kháng cáo có quyền thay đổi, bổ
sung kháng cáo mà không bị giới hạn bởi phạm vi kháng cáo ban đầu.
Trường hợp chưa hết thời hạn kháng nghị theo quy
định tại Điều 280 của Bộ luật này thì Viện kiểm sát đã kháng nghị có quyền thay
đổi, bổ sung kháng nghị mà không bị giới hạn bởi phạm vi kháng nghị ban đầu.
2. Trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa
phúc thẩm, người kháng cáo có quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo, Viện kiểm sát
đã kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị, nhưng không được vượt quá
phạm vi kháng cáo, kháng nghị ban đầu, nếu thời hạn kháng cáo, kháng nghị đã
hết.
3. Trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa
phúc thẩm, người kháng cáo có quyền rút kháng cáo, Viện kiểm sát đã kháng nghị
hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền rút kháng nghị.
Tòa án cấp phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối
với những phần của vụ án mà người kháng cáo đã rút kháng cáo hoặc Viện kiểm sát
đã rút kháng nghị.
Việc đình chỉ xét xử phúc thẩm trước khi mở phiên tòa do Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyết định, tại
phiên tòa do Hội
đồng xét xử quyết định.
4. Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng
nghị trước khi mở phiên tòa phải được lập thành văn bản và gửi cho Tòa án cấp phúc
thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm phải thông báo cho các đương sự về việc thay đổi, bổ
sung, rút kháng cáo, kháng nghị, thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc thay đổi, bổ sung, rút
kháng cáo.
Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị
tại phiên tòa phải được ghi vào biên bản phiên tòa.
Chương XVI. CHUẨN BỊ XÉT XỬ
PHÚC THẨM
Điều 285. Thụ
lý vụ án để xét xử phúc thẩm
1. Ngay sau khi nhận được hồ sơ vụ án, kháng cáo,
kháng nghị và tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án cấp phúc thẩm phải vào sổ thụ
lý.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý
vụ án, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi
kiện và Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án và thông báo trên
Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).
2. Chánh án Tòa án cấp phúc thẩm thành lập Hội đồng
xét xử phúc thẩm và phân công một Thẩm phán làm chủ tọa phiên tòa.
Điều 286. Thời
hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm
1. Trong thời hạn 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ
án, tuỳ từng trường hợp, Tòa án cấp phúc thẩm ra một trong các quyết định sau
đây:
a) Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án;
b) Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án;
c) Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.
Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở
ngại khách quan thì Chánh án Tòa án cấp phúc thẩm có thể quyết định kéo dài
thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không được quá 01 tháng.
2. Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có quyết
định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa phúc thẩm; trường hợp có lý
do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng.
3. Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ xét xử
phúc thẩm vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm được tính lại kể từ ngày
quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
4. Thời hạn quy định tại Điều này không áp dụng đối
với vụ án xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn, vụ án có yếu tố nước ngoài.
Điều 287. Cung
cấp tài liệu, chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm
1. Đương sự được quyền bổ sung tài liệu, chứng cứ
sau đây trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm:
a) Tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu
cầu giao nộp nhưng đương sự không cung cấp, giao nộp được vì có lý do chính
đáng;
b) Tài liệu, chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm không
yêu cầu đương sự giao nộp hoặc đương sự không thể biết được trong quá trình
giải quyết vụ việc theo thủ tục sơ thẩm.
2. Thủ tục giao nộp tài liệu, chứng cứ được thực
hiện theo quy định tại Điều 96 của Bộ luật này.
Điều 288. Tạm
đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án
1. Trường hợp tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định
tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án thì hậu quả của việc tạm đình chỉ xét xử phúc
thẩm và việc tiếp tục xét xử phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại các
điều 214, 215 và 216 của Bộ luật này.
2. Quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án
có hiệu lực thi hành ngay và được gửi ngay cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện,
Viện kiểm sát cùng cấp.
Điều 289. Đình
chỉ xét xử phúc thẩm vụ án
1. Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình
chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hoặc một phần vụ án trong các trường hợp sau đây:
a) Các trường hợp quy định tại điểm a và điểm b
khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này;
b) Người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc Viện
kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị;
c) Người kháng cáo rút một phần kháng cáo hoặc Viện
kiểm sát rút một phần kháng nghị;
d) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
2. Trường hợp người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo
hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị trước khi Tòa án cấp phúc thẩm ra
quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm thì Thẩm phán được phân công làm chủ
tọa phiên tòa ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm; trường hợp người kháng
cáo rút toàn bộ kháng cáo, Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị sau khi Tòa án
cấp phúc thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm thì Hội đồng xét xử
phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm.
Trong các trường hợp này, bản án, quyết định sơ
thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ
xét xử phúc thẩm.
3. Trường hợp người kháng cáo rút một phần kháng
cáo hoặc Viện kiểm sát rút một phần kháng nghị thì Hội đồng xét xử phúc thẩm
nhận định về việc người kháng cáo rút một phần kháng cáo, Viện kiểm sát rút một
phần kháng nghị và quyết định đình chỉ xét xử phần kháng cáo, kháng nghị đó
trong bản án phúc thẩm.
4. Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án có hiệu lực
thi hành ngay và phải được gửi ngay cho đương sự, cơ quan tổ chức, cá nhân khởi
kiện, Viện kiểm sát cùng cấp.
Điều 290. Quyết
định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm
1. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm phải có các nội
dung chính sau đây:
a) Các nội dung quy định tại các điểm a, b, c, d,
g, h và i khoản 1 Điều 220 của Bộ luật này;
b) Họ, tên Thẩm phán, Thư ký Tòa án; họ, tên Thẩm
phán dự khuyết (nếu có);
c) Họ, tên, tư cách tham gia tố tụng của người
kháng cáo;
d) Viện kiểm sát kháng nghị (nếu có);
đ) Họ, tên Kiểm sát viên tham gia phiên tòa; họ,
tên Kiểm sát viên dự khuyết (nếu có).
2. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm phải được gửi
cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ
ngày ra quyết định.
Điều 291. Quyết
định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, Tòa án
cấp phúc thẩm có quyền quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp
tạm thời quy định tại Chương VIII của Bộ luật này.
Điều 292.
Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu
1. Tòa án cấp phúc thẩm phải chuyển hồ sơ vụ án
cùng với quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu.
2. Thời hạn nghiên cứu hồ sơ của Viện kiểm sát cùng
cấp là 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án; hết thời hạn đó, Viện kiểm
sát phải trả hồ sơ vụ án cho Tòa án.
Chương XVII. THỦ TỤC XÉT XỬ
PHÚC THẨM
Mục 1. THỦ TỤC
BẮT ĐẦU PHIÊN TÒA PHÚC THẨM
Điều 293. Phạm
vi xét xử phúc thẩm
Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của bản
án sơ thẩm, quyết
định của Tòa án cấp sơ thẩm
có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo,
kháng nghị.
Điều 294. Những
người tham gia phiên tòa phúc thẩm
1. Người kháng cáo, đương sự, cơ quan, tổ chức, cá
nhân có liên quan đến việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị và người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải được triệu tập tham gia phiên tòa.
Tòa án có thể triệu tập những người tham gia tố tụng khác tham gia phiên tòa
nếu xét thấy cần thiết cho việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị.
2. Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp tham gia
phiên tòa phúc thẩm.
Điều 295. Tạm đình chỉ, đình chỉ xét xử phúc thẩm tại
phiên tòa
Tại
phiên tòa phúc thẩm, việc tạm đình chỉ, đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án được
thực hiện theo quy định tại Điều 288 và Điều 289 của Bộ luật này.
Điều 296. Hoãn phiên tòa phúc thẩm
1.
Kiểm sát viên được phân công tham gia phiên tòa phúc thẩm vắng mặt thì Hội đồng
xét xử vẫn tiến hành xét xử, không hoãn phiên tòa, trừ trường hợp Viện kiểm sát
có kháng nghị phúc thẩm.
2.
Người kháng cáo, người không kháng cáo nhưng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến việc kháng cáo, kháng nghị, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ
được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vắng mặt thì phải hoãn phiên tòa.
Trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt thì Tòa án tiến hành phiên tòa
phúc thẩm xét xử vắng mặt họ.
3.
Người kháng cáo được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt thì bị coi
như từ bỏ việc kháng cáo và Tòa án đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu
kháng cáo của người đó, trừ trường hợp người đó đề nghị xét xử vắng mặt thì Tòa
án tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt họ.
Trường
hợp người kháng cáo vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan
thì phải hoãn phiên tòa.
Trường
hợp có nhiều người kháng cáo, trong đó có người kháng cáo được Tòa án triệu tập
hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt nhưng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt thì
coi như người đó từ bỏ việc kháng cáo và Tòa án đưa vụ án ra xét xử. Trong phần
quyết định của bản án, Tòa án đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo
của người kháng cáo vắng mặt đó.
Người
không kháng cáo nhưng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo,
kháng nghị và những người tham gia tố tụng khác đã được Tòa án triệu tập hợp lệ
lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
4.
Thời hạn hoãn phiên tòa và quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm được thực hiện
theo quy định tại Điều 233 của Bộ luật này.
Điều 297. Chuẩn bị khai mạc phiên tòa phúc thẩm và
thủ tục bắt đầu phiên tòa phúc thẩm
Chuẩn
bị khai mạc phiên tòa phúc thẩm và thủ tục bắt đầu phiên tòa phúc thẩm được
thực hiện theo quy định tại các điều 237, 239, 240, 241 và 242 của Bộ luật này.
Điều 298. Hỏi về việc kháng cáo, kháng nghị và xử lý
việc thay đổi kháng cáo, kháng nghị tại phiên tòa
1.
Sau khi kết thúc thủ tục bắt đầu phiên tòa phúc thẩm thì một thành viên của Hội
đồng xét xử phúc thẩm công bố nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm và
nội dung kháng cáo, kháng nghị.
2.
Chủ tọa phiên tòa hỏi về các vấn đề sau đây:
a)
Hỏi nguyên đơn có rút đơn khởi kiện hay không;
b)
Hỏi người kháng cáo, Kiểm sát viên có thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng
nghị hay không;
c)
Hỏi các đương sự có thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay
không.
3.
Trường hợp người kháng cáo rút một phần kháng cáo, Viện kiểm sát rút một phần
kháng nghị thì Tòa án chấp nhận việc rút kháng cáo, kháng nghị. Trường hợp
người kháng cáo, Viện kiểm sát bổ sung nội dung mới vượt quá phạm vi kháng cáo,
kháng nghị ban đầu thì Tòa án không xem xét nội dung đó.
Điều 299. Nguyên đơn rút đơn khởi kiện trước khi mở
phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm
1.
Trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, nếu nguyên đơn rút đơn
khởi kiện thì Hội đồng xét xử phúc thẩm phải hỏi bị đơn có đồng ý hay không và
tuỳ từng trường hợp mà giải quyết như sau:
a)
Bị đơn không đồng ý thì không chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn;
b)
Bị đơn đồng ý thì chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn. Hội đồng xét
xử phúc thẩm ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án.
Trong trường hợp này, các đương sự vẫn phải chịu án phí sơ thẩm theo quyết định
của Tòa án cấp sơ thẩm và phải chịu một nửa án phí phúc thẩm theo quy định của
pháp luật.
2.
Trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án
theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này thì nguyên đơn có quyền khởi kiện lại
vụ án theo thủ tục do Bộ luật này quy định.
Điều 300. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự
tại phiên tòa phúc thẩm
1.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải
quyết vụ án và thoả thuận của họ là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật
và không trái đạo đức xã hội thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra bản án phúc thẩm
sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thoả thuận của các đương sự.
2.
Các đương sự tự thoả thuận với nhau về việc chịu án phí sơ thẩm, nếu không thoả
thuận được thì Tòa án quyết định theo quy định của pháp luật.
Mục 2. TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA PHÚC THẨM
Điều 301. Nội dung và phương thức tranh tụng tại
phiên tòa phúc thẩm
Nội
dung và phương thức tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm được thực hiện theo quy
định tại Điều 247 của Bộ luật này.
Điều 302. Trình bày của đương sự, Kiểm sát viên tại
phiên tòa phúc thẩm
Trường
hợp có đương sự vẫn giữ kháng cáo, Viện kiểm sát vẫn giữ kháng nghị thì việc
trình bày tại phiên tòa phúc thẩm được tiến hành như sau:
1.
Trình bày kháng cáo, kháng nghị:
a)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người kháng cáo trình bày nội dung
kháng cáo, căn cứ của việc kháng cáo. Người kháng cáo có quyền bổ sung ý kiến.
Trường
hợp tất cả đương sự đều kháng cáo thì việc trình bày được thực hiện theo thứ tự
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn kháng cáo và nguyên đơn;
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn kháng cáo và bị đơn; người
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
kháng cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
b)
Trường hợp chỉ có Viện kiểm sát kháng nghị thì Kiểm sát viên trình bày về nội
dung kháng nghị, căn cứ của việc kháng nghị. Trường hợp vừa có kháng cáo, vừa
có kháng nghị thì các đương sự trình bày về nội dung kháng cáo và các căn cứ
của việc kháng cáo trước, sau đó Kiểm sát viên trình bày về nội dung kháng nghị
và các căn cứ của việc kháng nghị;
c)
Trường hợp đương sự không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình
thì họ tự trình bày ý kiến về nội dung kháng cáo và đề nghị của mình.
2.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khác có liên quan đến
kháng cáo, kháng nghị trình bày ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị. Đương
sự có quyền bổ sung ý kiến.
3.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đương sự, Kiểm sát viên có quyền xuất trình bổ sung
tài liệu, chứng cứ.
Điều 303. Thủ tục hỏi và công bố tài liệu, chứng cứ,
xem xét vật chứng tại phiên tòa phúc thẩm
1.
Thủ tục hỏi những người tham gia tố tụng và công bố tài liệu, chứng cứ, xem xét
vật chứng quy định tại Điều 287 của Bộ luật này tại phiên tòa phúc thẩm được
thực hiện như tại phiên tòa sơ thẩm.
2.
Việc hỏi được thực hiện đối với những vấn đề thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm quy
định tại Điều 293 của Bộ luật này.
Điều 304. Tạm ngừng phiên tòa phúc thẩm
Việc
tạm ngừng phiên tòa phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại Điều 259 của Bộ
luật này.
Điều 305. Tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm
1.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự chỉ được tranh luận về những vấn đề thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm và
đã được hỏi tại phiên tòa phúc thẩm.
2.
Trình tự tranh luận đối với kháng cáo được thực hiện như sau:
a)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người kháng cáo trình bày. Người
kháng cáo có quyền bổ sung ý kiến;
b)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tranh luận, đối đáp. Đương
sự có quyền bổ sung ý kiến;
c)
Khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử có thể yêu cầu các đương sự tranh luận
bổ sung về những vấn đề cụ thể để làm căn cứ giải quyết vụ án.
3.
Trình tự tranh luận đối với kháng nghị được thực hiện như sau:
a)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phát biểu về tính hợp pháp,
tính có căn cứ của kháng nghị. Đương sự có quyền bổ sung ý kiến;
b)
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về những vấn đề mà người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự, đương sự đã nêu.
4.
Trường hợp đương sự không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
thì họ tự mình tranh luận.
5.
Trường hợp vắng mặt một trong các đương sự và người tham gia tố tụng khác thì
chủ tọa phiên tòa phải công bố lời khai của họ để trên cơ sở đó các đương sự có
mặt tại phiên tòa tranh luận và đối đáp.
Điều 306. Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc
thẩm
Sau
khi kết thúc việc tranh luận và đối đáp, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của
Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân
sự ở giai đoạn phúc thẩm.
Ngay
sau khi kết thúc phiên tòa, Kiểm sát viên phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho
Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ án.
Điều 307. Nghị án và tuyên án
Việc
nghị án, trở lại việc hỏi và tranh luận, thời gian nghị án, tuyên án, sửa chữa,
bổ sung bản án phúc thẩm được thực hiện như thủ tục xét xử sơ thẩm.
Điều 308. Thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm
Hội
đồng xét xử phúc thẩm có quyền sau đây:
1.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm;
2.
Sửa bản án sơ thẩm;
3.
Hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa
án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm;
4.
Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án;
5.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm;
6.
Tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án khi có văn bản của Chánh án Tòa án nhân dân
tối cao kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc
bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị
quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, văn
bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên cho đến khi cơ quan nhà
nước có thẩm quyền có văn bản trả lời Tòa án kết quả xử lý.
Điều 309. Sửa bản án sơ thẩm
Hội
đồng xét xử phúc thẩm sửa một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm nếu Tòa án cấp
sơ thẩm quyết định không đúng pháp luật trong các trường hợp sau đây:
1.
Việc thu thập chứng cứ và chứng minh đã được thực hiện đầy đủ và theo đúng quy
định tại Chương VII của Bộ luật này;
2.
Việc thu thập chứng cứ và chứng minh chưa được thực hiện đầy đủ ở cấp sơ thẩm
nhưng tại phiên tòa phúc thẩm đã được bổ sung đầy đủ.
Điều 310. Hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án sơ
thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ
tục sơ thẩm
Hội
đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển
hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm
khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
1.
Việc thu thập chứng cứ và chứng minh không theo đúng quy định tại Chương VII
của Bộ luật này hoặc chưa được thực hiện đầy đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm
không thể thực hiện bổ sung được;
2.
Thành phần của Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng quy định của Bộ luật này hoặc
có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự.
Điều 311. Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết
vụ án
Hội
đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án nếu trong
quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, vụ án thuộc một trong các
trường hợp quy định tại Điều 217, điểm b khoản 1 Điều 299 của Bộ luật này.
Điều 312. Đình chỉ xét xử phúc thẩm
Hội
đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm và giữ nguyên bản án sơ thẩm
khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
1.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 289 của Bộ luật này;
2.
Người kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà không có mặt theo quy
định tại khoản 3 Điều 296 của Bộ luật này, trừ trường hợp vụ án có người khác
kháng cáo, Viện kiểm sát kháng nghị.
Điều 313. Bản án phúc thẩm
1.
Hội đồng xét xử phúc thẩm ra bản án phúc thẩm nhân danh nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam.
2.
Bản án phúc thẩm gồm có:
a)
Phần mở đầu;
b)
Phần nội dung vụ án, kháng cáo, kháng nghị và nhận định;
c)
Phần quyết định.
3.
Trong phần mở đầu phải ghi rõ tên của Tòa án xét xử phúc thẩm; số và ngày thụ
lý vụ án; số bản án và ngày tuyên án; họ, tên của các thành viên Hội đồng xét
xử, Thư ký phiên tòa, Kiểm sát viên, người giám định, người phiên dịch; tên,
địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cơ
quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện; người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của họ; người kháng cáo, Viện kiểm sát kháng nghị; xét xử
công khai hoặc xét xử kín; thời gian và địa điểm xét xử.
4.
Trong phần nội dung vụ án, kháng cáo, kháng nghị và nhận định phải tóm tắt nội
dung vụ án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm; nội dung kháng cáo, kháng nghị.
Tòa
án phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả
tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh giá, nhận định về kháng cáo, kháng
nghị, các tình tiết của vụ án, việc giải quyết, xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm,
những căn cứ pháp luật mà Tòa án áp dụng, nếu vụ án thuộc trường hợp quy định
tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật này thì còn phải căn cứ vào tập quán, tương tự
pháp luật, những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công
bằng, để chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giải quyết các
vấn đề khác có liên quan.
Trong
phần quyết định phải ghi rõ các căn cứ pháp luật, quyết định của Hội đồng xét
xử về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời, án phí sơ thẩm, phúc thẩm, chi phí tố tụng (nếu có).
5.
Khi xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định đã bị hủy một phần hoặc toàn bộ theo
quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm thì Tòa án phải giải quyết vấn đề tài sản,
nghĩa vụ đã được thi hành (nếu có) theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp
luật nhưng bị hủy và ghi rõ trong bản án.
6.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Điều 314. Thủ tục phúc thẩm đối với quyết định của
Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị
1.
Khi phúc thẩm đối với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng
nghị, Hội đồng phúc thẩm không phải mở phiên tòa, không phải triệu tập các
đương sự, trừ trường hợp cần phải nghe ý kiến của họ trước khi ra quyết định.
2.
Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án có quyết định của Tòa án cấp
sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa án phải mở phiên họp phúc thẩm để xem xét
quyết định đó; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp tham gia phiên họp phúc thẩm. Kiểm sát
viên vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp, trừ trường hợp Viện kiểm sát
có kháng nghị.
3.
Một thành viên của Hội đồng phúc thẩm trình bày tóm tắt nội dung quyết định sơ
thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, nội dung của kháng cáo, kháng nghị và tài liệu,
chứng cứ kèm theo (nếu có).
4.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết kháng cáo,
kháng nghị trước khi Hội đồng phúc thẩm ra quyết định.
5.
Khi xem xét quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng
phúc thẩm có quyền:
a)
Giữ nguyên quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm;
b)
Sửa quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm;
c)
Hủy quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ
thẩm để tiếp tục giải quyết vụ án.
6.
Quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
Điều 315. Gửi bản án, quyết định phúc thẩm
1. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra bản án,
quyết định phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi bản án, quyết định phúc
thẩm cho Tòa án đã xét xử sơ thẩm, Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan thi hành án
dân sự có thẩm quyền, người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến việc kháng cáo, kháng nghị hoặc người đại diện hợp pháp của họ.
Trường hợp Tòa án nhân dân cấp cao xét xử phúc thẩm
thì thời hạn này có thể dài hơn, nhưng không quá 25 ngày.
2. Bản án, quyết định phúc thẩm có liên quan đến
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng do tổ chức xã hội tham gia bảo vệ người tiêu
dùng khởi kiện phải được niêm yết công khai tại trụ sở Tòa án và công bố công
khai trên một trong các báo hàng ngày của trung ương hoặc địa phương trong ba số liên tiếp.
Bản án, quyết định phúc thẩm có liên quan đến trách
nhiệm bồi thường của Nhà nước phải được Tòa án cấp phúc thẩm gửi cho cơ quan
quản lý nhà nước có thẩm quyền về bồi thường nhà nước.
Bản án, quyết định phúc thẩm có liên quan đến việc
thay đổi hộ tịch của cá nhân thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày
bản án, quyết định đó có hiệu lực pháp luật phải được Tòa án cấp phúc thẩm thông
báo bằng văn bản kèm theo trích lục bản án, quyết định cho Ủy ban nhân dân nơi
đã đăng ký hộ tịch của cá nhân đó theo quy định của Luật hộ tịch.
3. Bản án phúc thẩm được Tòa án cấp phúc thẩm công
bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có), trừ trường hợp có chứa thông tin
quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này.
Phần thứ tư. GIẢI QUYẾT VỤ
ÁN DÂN SỰ THEO THỦ TỤC RÚT GỌN
Chương XVIII. GIẢI QUYẾT VỤ
ÁN DÂN SỰ THEO THỦ TỤC RÚT GỌN TẠI TÒA ÁN CẤP SƠ THẨM
Điều 316. Phạm
vi áp dụng thủ tục rút gọn
1. Thủ tục rút gọn là thủ tục tố tụng được áp dụng
để giải quyết vụ án dân sự có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật này với
trình tự đơn giản so với thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thông thường nhằm
giải quyết vụ án nhanh chóng nhưng vẫn bảo đảm đúng pháp luật.
2. Những quy định của Phần này được áp dụng để giải
quyết vụ án theo thủ tục rút gọn; trường hợp không có quy định thì áp dụng những quy
định khác của Bộ luật này để giải quyết vụ án.
3. Trường hợp luật khác có quy định tranh chấp dân sự được giải
quyết theo thủ tục rút gọn thì việc giải quyết tranh chấp đó được thực hiện theo thủ tục
quy định tại Phần này.
Điều 317. Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn
1.
Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn khi có đủ các điều kiện sau đây:
a)
Vụ án có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, đương sự đã thừa nhận
nghĩa vụ; tài liệu, chứng cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để giải quyết vụ án và
Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ;
b)
Các đương sự đều có địa chỉ nơi cư trú, trụ sở rõ ràng;
c)
Không có đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài, trừ
trường hợp đương sự ở nước ngoài và đương sự ở Việt Nam có thỏa thuận đề nghị
Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn hoặc các đương sự đã xuất trình được
chứng cứ về quyền sở hữu hợp pháp tài sản và có thỏa thuận thống nhất về việc
xử lý tài sản.
2.
Đối với vụ án lao động đã được thụ lý, giải quyết theo thủ tục rút gọn mà người
sử dụng lao động có quốc tịch nước ngoài hoặc người đại diện theo pháp luật của
họ đã rời khỏi địa chỉ nơi cư trú, nơi có trụ sở mà không thông báo cho đương
sự khác, Tòa án thì bị coi là trường hợp cố tình giấu địa chỉ. Tòa án vẫn giải
quyết vụ án đó theo thủ tục rút gọn quy định tại Phần này.
3.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án theo thủ tục rút gọn, nếu xuất hiện tình
tiết mới sau đây làm cho vụ án không còn đủ điều kiện để giải quyết theo thủ
tục rút gọn thì Tòa án ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục
thông thường:
a)
Phát sinh tình tiết mới mà các đương sự không thống nhất do đó cần phải xác
minh, thu thập thêm tài liệu, chứng cứ hoặc cần phải tiến hành giám định;
b)
Cần phải định giá, thẩm định giá tài sản tranh chấp mà các đương sự không thống
nhất về giá;
c)
Cần phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
d)
Phát sinh người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
đ)
Phát sinh yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập;
e)
Phát sinh đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài, yêu
cầu xác minh, thu thập chứng cứ ở nước ngoài mà cần phải thực hiện ủy thác tư
pháp, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này.
4.
Trường hợp chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường thì thời hạn
chuẩn bị xét xử vụ án được tính lại kể từ ngày ra quyết định chuyển vụ án sang
giải quyết theo thủ tục thông thường.
Điều 318. Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục
rút gọn
1.
Trong thời hạn không quá 01 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án theo quy định tại
khoản 3 và khoản 4 Điều 195 của Bộ luật này, Thẩm phán được phân công giải
quyết vụ án phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn và mở
phiên tòa xét xử trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định.
2.
Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn phải có các nội dung chính
sau đây:
a)
Ngày, tháng, năm ra quyết định;
b)
Tên Tòa án ra quyết định;
c)
Vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục rút gọn;
d)
Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của nguyên đơn,
bị đơn hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện quy định tại Điều 187 của Bộ
luật này, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
đ)
Họ, tên Thẩm phán, Thư ký Tòa án; họ, tên Thẩm phán dự khuyết (nếu có);
e)
Họ, tên Kiểm sát viên; họ, tên Kiểm sát viên dự khuyết (nếu có);
g)
Ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm mở phiên tòa;
h)
Xét xử công khai hoặc xét xử kín;
i)
Họ, tên những người được triệu tập tham gia phiên tòa.
3.
Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn phải được gửi ngay cho
đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp.
Trường
hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ
luật này thì Tòa án phải gửi hồ sơ vụ án cùng quyết định đưa vụ án ra xét xử
cho Viện kiểm sát cùng cấp; trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận
được hồ sơ, Viện kiểm sát phải nghiên cứu và trả lại hồ sơ cho Tòa án.
Điều 319. Khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu
nại, kiến nghị về quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn
1.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định đưa vụ án ra
xét xử theo thủ tục rút gọn, đương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát cùng
cấp có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án đã ra quyết định.
2.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị về
quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn, Chánh án Tòa án phải ra
một trong các quyết định sau đây:
a)
Giữ nguyên quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn;
b)
Hủy quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn và chuyển vụ án sang
giải quyết theo thủ tục thông thường.
3.
Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị của Chánh án Tòa án là quyết định
cuối cùng và phải được gửi ngay cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp.
Điều 320. Phiên tòa xét xử theo thủ tục rút gọn
1.
Các đương sự, Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải có mặt tại phiên tòa
xét xử theo thủ tục rút gọn. Trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì Hội đồng xét
xử vẫn tiến hành xét xử. Đương sự có quyền đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Trường
hợp bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ mà
vắng mặt không có lý do chính đáng thì Thẩm phán vẫn tiến hành phiên tòa.
2.
Thẩm phán tiến hành thủ tục khai mạc phiên tòa theo quy định tại Điều 239 của
Bộ luật này.
3.
Sau khi khai mạc phiên tòa, Thẩm phán tiến hành hòa giải, trừ trường hợp không
được hòa giải theo quy định tại Điều 206 hoặc không tiến hành hòa giải được
theo quy định tại Điều 207 của Bộ luật này. Trường hợp các đương sự thỏa thuận
được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án thì Thẩm phán ra quyết định
công nhận sự thoả thuận của các đương sự theo quy định tại Điều 212 của Bộ luật
này. Trường hợp các đương sự không thỏa thuận được với nhau về vấn đề phải giải
quyết trong vụ án thì Thẩm phán tiến hành xét xử.
Việc
trình bày, tranh luận, đối đáp, đề xuất quan điểm về việc giải quyết vụ án được
thực hiện theo quy định tại Mục 3 Chương XIV của Bộ luật này.
4.
Trường hợp tại phiên tòa mà phát sinh tình tiết mới quy định tại khoản 3 Điều
317 của Bộ luật này làm cho vụ án không còn đủ điều kiện để giải quyết theo thủ
tục rút gọn thì Thẩm phán xem xét, ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết
theo thủ tục thông thường. Trong trường hợp này, thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án
được tính theo quy định tại khoản 4 Điều 317 của Bộ luật này.
Điều 321. Hiệu lực của bản án, quyết định theo thủ
tục rút gọn
1. Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án theo thủ
tục rút gọn có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm để yêu cầu
Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm rút gọn.
2. Bản án, quyết định theo thủ tục rút gọn có thể
bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Bộ luật
này.
Chương XIX. GIẢI QUYẾT VỤ
ÁN DÂN SỰ THEO THỦ TỤC RÚT GỌN TẠI TÒA ÁN CẤP PHÚC THẨM
Điều 322. Thời hạn kháng cáo, kháng nghị đối với bản
án, quyết định theo thủ tục rút gọn
1.
Thời hạn kháng cáo đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm theo thủ
tục rút gọn là 07 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại
phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án, quyết định được giao cho
họ hoặc bản án, quyết định được niêm yết.
2.
Thời hạn kháng nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm theo thủ
tục rút gọn của Viện kiểm sát cùng cấp là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên
trực tiếp là 10 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định.
Điều 323. Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm theo thủ
tục rút gọn
1.
Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án, tuỳ từng trường hợp, Thẩm
phán được phân công giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm ra một trong các
quyết định sau đây:
a)
Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án;
b)
Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án;
c)
Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.
2.
Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm phải có nội dung quy định tại khoản 1 Điều
290 của Bộ luật này. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm phải được gửi
ngay cho những người có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị và Viện kiểm sát
cùng cấp kèm theo hồ sơ vụ án để nghiên cứu.
Thời
hạn nghiên cứu hồ sơ của Viện kiểm sát cùng cấp là 05 ngày làm việc, kể từ ngày
nhận được hồ sơ vụ án; hết thời hạn đó, Viện kiểm sát phải trả hồ sơ vụ án cho
Tòa án.
3.
Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án thì thời hạn chuẩn
bị xét xử phúc thẩm được tính lại kể từ ngày Tòa án cấp phúc thẩm tiếp tục xét
xử phúc thẩm vụ án khi lý do tạm đình chỉ không còn.
4.
Trường hợp xuất hiện tình tiết mới quy định tại khoản 3 Điều 317 của Bộ luật
này thì Tòa án ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông
thường. Trong trường hợp này, thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án được tính theo quy
định tại khoản 4 Điều 317 của Bộ luật này.
Điều 324. Thủ tục phúc thẩm rút gọn đối với bản án,
quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị
1. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày có quyết định
đưa vụ án ra xét xử phúc
thẩm, Thẩm phán phải mở phiên tòa phúc thẩm.
2. Các đương sự, Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải có mặt tại phiên tòa phúc thẩm.
Trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử, trừ
trường hợp Viện kiểm sát có kháng nghị phúc thẩm. Đương sự có quyền đề nghị Tòa
án xét xử vắng mặt.
Trường hợp đương sự không kháng cáo đã được triệu
tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý do chính đáng thì Thẩm phán vẫn tiến hành
phiên tòa.
3. Thẩm phán trình bày tóm tắt nội dung bản án,
quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, nội dung của kháng cáo, kháng nghị
và tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có).
4. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương
sự trình bày, đương sự bổ sung ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị, tranh
luận, đối đáp, đề xuất quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án.
5. Sau khi kết thúc việc tranh luận và đối đáp,
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật
trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm.
Ngay
sau khi kết thúc phiên tòa, Kiểm sát viên phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho
Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ án.
6. Khi xem xét bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ
thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, Thẩm phán có quyền sau đây:
a) Giữ nguyên bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ
thẩm;
b) Sửa bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm;
c) Hủy bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và
chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết lại vụ án theo thủ tục
rút gọn hoặc theo thủ tục thông thường nếu không còn đủ các điều kiện để giải quyết theo
thủ tục rút gọn;
d) Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án;
đ) Đình chỉ xét xử phúc thẩm và giữ nguyên bản án
sơ thẩm.
7. Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp
luật kể từ ngày ra bản án, quyết định.
Phần thứ năm. THỦ TỤC XÉT LẠI
BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH ĐÃ CÓ HIỆU LỰC PHÁP LUẬT
Chương XX. THỦ TỤC GIÁM
ĐỐC THẨM
Điều 325. Tính
chất của giám đốc thẩm
Giám đốc thẩm là xét lại bản án, quyết định của Tòa
án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị giám đốc thẩm khi có căn cứ quy
định tại Điều 326 của Bộ luật này.
Điều 326. Căn cứ, điều kiện để kháng nghị theo thủ
tục giám đốc thẩm
1.
Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ
tục giám đốc thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây:
a)
Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan
của vụ án gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự;
b)
Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được
quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ không
được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật;
c)
Có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc ra bản án, quyết định
không đúng, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, xâm phạm
đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người
thứ ba.
2.
Người có thẩm quyền kháng nghị quy định tại Điều 331 của Bộ luật này kháng nghị
bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật khi có một trong các căn
cứ quy định tại khoản 1 Điều này và có đơn đề nghị theo quy định tại Điều 328
của Bộ luật này hoặc có thông báo, kiến nghị theo quy định tại khoản 2 và khoản
3 Điều 327 của Bộ luật này; trường hợp xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của
Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba thì không cần phải có đơn đề
nghị.
Điều 327. Phát hiện bản án, quyết định của Tòa án đã
có hiệu lực pháp luật cần xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm
1.
Trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực
pháp luật, nếu phát hiện có vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định đó thì
đương sự có quyền đề nghị bằng văn bản với người có thẩm quyền kháng nghị quy
định tại Điều 331 của Bộ luật này để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc
thẩm.
2.
Trường hợp Tòa án, Viện kiểm sát hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác phát hiện
có vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp
luật thì phải thông báo bằng văn bản cho người có thẩm quyền kháng nghị quy
định tại Điều 331 của Bộ luật này.
3.
Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao
hoặc Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao kiến
nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc
thẩm bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nếu phát hiện có
căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 326 của Bộ luật này.
Điều 328. Đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của
Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm
1.
Đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo
thủ tục giám đốc thẩm phải có các nội dung chính sau đây:
a)
Ngày, tháng, năm làm đơn đề nghị;
b)
Tên, địa chỉ của người đề nghị;
c)
Tên bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được đề nghị xem xét
theo thủ tục giám đốc thẩm;
d)
Lý do đề nghị, yêu cầu của người đề nghị;
đ)
Người đề nghị là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ; người đề nghị là cơ quan,
tổ chức thì người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng
dấu vào phần cuối đơn; trường hợp tổ chức đề nghị là doanh nghiệp thì việc sử
dụng con dấu được thực hiện theo quy định của Luật doanh nghiệp.
2.
Kèm theo đơn đề nghị, người đề nghị phải gửi bản án, quyết định của Tòa án đã
có hiệu lực pháp luật, tài liệu, chứng cứ (nếu có) để chứng minh cho những yêu
cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.
3.
Đơn đề nghị và tài liệu, chứng cứ được gửi cho người có thẩm quyền kháng nghị
quy định tại Điều 331 của Bộ luật này.
Điều 329. Thủ tục nhận đơn đề nghị xem xét bản án,
quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm
1.
Tòa án, Viện kiểm sát nhận đơn đề nghị do đương sự nộp trực tiếp tại Tòa án,
Viện kiểm sát hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính và phải ghi vào sổ nhận đơn, cấp
giấy xác nhận đã nhận đơn cho đương sự. Ngày gửi đơn được tính từ ngày đương sự
nộp đơn tại Tòa án, Viện kiểm sát hoặc ngày có dấu dịch vụ bưu chính nơi gửi.
2.
Tòa án, Viện kiểm sát chỉ thụ lý đơn đề nghị khi có đủ các nội dung quy định
tại Điều 328 của Bộ luật này. Trường hợp đơn đề nghị không có đủ điều kiện theo
quy định tại Điều 328 của Bộ luật này thì Tòa án, Viện kiểm sát yêu cầu người
gửi đơn sửa đổi, bổ sung trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được yêu cầu
của Tòa án, Viện kiểm sát; hết thời hạn này mà người gửi đơn không sửa đổi, bổ
sung thì Tòa án, Viện kiểm sát trả lại đơn đề nghị, nêu rõ lý do cho đương sự
và ghi chú vào sổ nhận đơn.
3.
Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm phân công người có
trách nhiệm tiến hành nghiên cứu đơn, thông báo, kiến nghị, hồ sơ vụ án, báo
cáo người có thẩm quyền kháng nghị xem xét, quyết định; trường hợp không kháng
nghị thì thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do cho đương sự, cơ quan, tổ chức,
cá nhân có văn bản thông báo, kiến nghị.
Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao phân công Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phân công Kiểm sát viên Viện kiểm sát
nhân dân tối cao nghiên cứu đơn, thông báo, kiến nghị, hồ sơ vụ án, báo cáo
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
xem xét, quyết định kháng nghị. Trường hợp không kháng nghị thì Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tự mình hoặc ủy
quyền cho Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân
dân tối cao thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do cho đương sự, cơ quan, tổ
chức, cá nhân có văn bản thông báo, kiến nghị.
Điều 330. Bổ sung, xác minh tài liệu, chứng cứ trong
thủ tục giám đốc thẩm
1.
Đương sự có quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ cho người có thẩm quyền kháng
nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu tài liệu, chứng cứ đó chưa được Tòa án cấp
sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm yêu cầu đương sự giao nộp hoặc đã yêu cầu giao
nộp nhưng đương sự không giao nộp được vì có lý do chính đáng hoặc tài liệu,
chứng cứ mà đương sự không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án.
2.
Trong quá trình giải quyết đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án đã
có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, người có thẩm quyền kháng
nghị theo thủ tục giám đốc thẩm có quyền yêu cầu người có đơn bổ sung tài liệu,
chứng cứ hoặc tự mình kiểm tra, xác minh tài liệu, chứng cứ cần thiết.
Điều 331. Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục
giám đốc thẩm
1.
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có
thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu
lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao; bản án, quyết định có hiệu lực pháp
luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định giám đốc thẩm của
Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
2.
Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có
quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi
thẩm quyền theo lãnh thổ.
Điều 332. Hoãn, tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết
định đã có hiệu lực pháp luật
1.
Người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của
Tòa án có quyền yêu cầu hoãn thi hành bản án, quyết định để xem xét việc kháng
nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Việc hoãn thi hành bản án, quyết định được
thực hiện theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự.
2.
Người đã kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu
lực pháp luật có quyền quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đó
cho đến khi có quyết định giám đốc thẩm.
Điều 333. Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Quyết
định kháng nghị giám đốc thẩm phải có các nội dung chính sau đây:
1.
Ngày, tháng, năm ra quyết định kháng nghị và số của quyết định kháng nghị;
2.
Chức vụ của người ra quyết định kháng nghị;
3.
Số, ngày, tháng, năm của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng
nghị;
4.
Quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị;
5.
Nhận xét, phân tích những vi phạm, sai lầm của bản án, quyết định đã có hiệu
lực pháp luật bị kháng nghị;
6.
Căn cứ pháp luật để quyết định kháng nghị;
7.
Kháng nghị toàn bộ hoặc phần của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật;
8.
Tên của Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm vụ án;
9.
Đề nghị của người kháng nghị.
Điều 334. Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc
thẩm
1.
Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm có quyền kháng nghị
trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực
pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2.
Trường hợp đã hết thời hạn kháng nghị theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng
có các điều kiện sau đây thì thời hạn kháng nghị được kéo dài thêm 02 năm, kể
từ ngày hết thời hạn kháng nghị:
a)
Đương sự đã có đơn đề nghị theo quy định tại khoản 1 Điều 328 của Bộ luật này
và sau khi hết thời hạn kháng nghị quy định tại khoản 1 Điều này đương sự vẫn
tiếp tục có đơn đề nghị;
b)
Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật
theo quy định tại khoản 1 Điều 326 của Bộ luật này, xâm phạm nghiêm trọng đến
quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, của người thứ ba, xâm phạm lợi ích của
cộng đồng, lợi ích của Nhà nước và phải kháng nghị để khắc phục sai lầm trong
bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đó.
Điều 335. Thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị giám đốc
thẩm
1.
Người đã kháng nghị giám đốc thẩm có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị nếu
chưa hết thời hạn kháng nghị quy định tại Điều 334 của Bộ luật này. Việc thay
đổi, bổ sung phải được thực hiện bằng quyết định. Quyết định thay đổi, bổ sung
kháng nghị phải được gửi theo quy định tại Điều 336 của Bộ luật này.
2.
Người đã kháng nghị có quyền rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị trước khi mở
phiên tòa hoặc tại phiên tòa giám đốc thẩm. Việc rút kháng nghị phải được thực
hiện bằng quyết định.
3.
Khi nhận được quyết định rút toàn bộ kháng nghị, Tòa án giám đốc thẩm ra quyết
định đình chỉ việc xét xử giám đốc thẩm.
Điều 336. Gửi quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
1.
Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm phải được gửi ngay cho Tòa án ra bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị, các đương sự, cơ quan thi
hành án dân sự có thẩm quyền, người khác có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến
nội dung kháng nghị.
2.
Trường hợp Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc Chánh án Tòa án nhân dân cấp
cao kháng nghị thì quyết định kháng nghị cùng hồ sơ vụ án phải được gửi ngay
cho Viện kiểm sát cùng cấp. Viện kiểm sát nghiên cứu hồ sơ trong thời hạn 15
ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án; hết thời hạn này, Viện kiểm sát phải
chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm.
3.
Trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân cấp cao kháng nghị thì quyết định kháng nghị phải được gửi
ngay cho Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm.
Điều 337. Thẩm quyền giám đốc thẩm
1.
Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện
trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị như sau:
a)
Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao xét xử giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét
xử gồm ba Thẩm phán đối với bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh,
Tòa án nhân dân cấp huyện có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám
đốc thẩm;
b)
Toàn thể Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao xét xử giám đốc thẩm đối với
bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật quy định tại điểm a
khoản này nhưng có tính chất phức tạp hoặc bản án, quyết định đã được Ủy ban
thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao xét xử giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm
ba Thẩm phán nhưng không đạt được sự thống nhất khi biểu quyết thông qua quyết
định về việc giải quyết vụ án.
2.
Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao bị kháng nghị như sau:
a)
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm bằng Hội đồng
xét xử gồm năm Thẩm phán đối với bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp cao
bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm;
b)
Toàn thể Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm đối
với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật quy định tại điểm a khoản này
nhưng có tính chất phức tạp hoặc bản án, quyết định đã được Hội đồng thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm năm Thẩm
phán nhưng không đạt được sự thống nhất khi biểu quyết thông qua quyết định về
việc giải quyết vụ án.
3.
Những vụ án có tính chất phức tạp quy định tại điểm b khoản 1 và điểm b khoản 2
Điều này là những vụ án thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a)
Quy định của pháp luật về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án chưa rõ ràng,
chưa được hướng dẫn áp dụng thống nhất;
b)
Việc đánh giá chứng cứ, áp dụng pháp luật có nhiều ý kiến khác nhau;
c)
Việc giải quyết vụ án liên quan đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước,
bảo vệ quyền con người, quyền công dân được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm.
4.
Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao xem xét, quyết định việc tổ chức xét xử giám
đốc thẩm trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này. Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao xem xét, quyết định việc tổ chức xét xử giám đốc thẩm trong
các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
5.
Trường hợp những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật về cùng một vụ án
dân sự cùng thuộc thẩm quyền giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao và Tòa
án nhân dân tối cao thì Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền giám đốc thẩm toàn
bộ vụ án.
Điều 338. Những người tham gia phiên tòa giám đốc
thẩm
1.
Phiên tòa giám đốc thẩm phải có sự tham gia của Viện kiểm sát cùng cấp.
2.
Trường hợp xét thấy cần thiết, Tòa án triệu tập đương sự hoặc người đại diện
hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hoặc người tham
gia tố tụng khác có liên quan đến việc kháng nghị tham gia phiên tòa giám đốc
thẩm; nếu họ vắng mặt tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử giám đốc thẩm vẫn tiến
hành phiên tòa.
Điều 339. Thời hạn mở phiên tòa giám đốc thẩm
Trong
thời hạn 04 tháng, kể từ ngày nhận được kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án, Tòa án
có thẩm quyền giám đốc thẩm phải mở phiên tòa để xét xử vụ án theo thủ tục giám
đốc thẩm.
Điều 340. Chuẩn bị phiên tòa giám đốc thẩm
Chánh
án Tòa án phân công một Thẩm phán làm bản thuyết trình về vụ án tại phiên tòa.
Bản thuyết trình tóm tắt nội dung vụ án và các bản án, quyết định của các cấp
Tòa án, nội dung của kháng nghị. Bản thuyết trình phải được gửi cho các thành
viên Hội đồng xét xử giám đốc thẩm chậm nhất là 07 ngày trước ngày mở phiên tòa
giám đốc thẩm.
Điều 341. Thủ tục xét xử tại phiên tòa giám đốc thẩm
1.
Sau khi chủ tọa khai mạc phiên tòa, một thành viên Hội đồng xét xử giám đốc
thẩm trình bày tóm tắt nội dung vụ án, quá trình xét xử vụ án, quyết định của
bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị, các căn
cứ, nhận định của kháng nghị và đề nghị của người kháng nghị. Trường hợp Viện
kiểm sát kháng nghị thì đại diện Viện kiểm sát trình bày nội dung kháng nghị.
2.
Đương sự, người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác được Tòa án triệu tập đến phiên tòa
giám đốc thẩm trình bày ý kiến về những vấn đề mà Hội đồng giám đốc thẩm yêu
cầu. Trường hợp họ vắng mặt nhưng có văn bản trình bày ý kiến thì Hội đồng xét
xử giám đốc thẩm công bố ý kiến của họ.
3.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về quyết định kháng nghị và việc giải
quyết vụ án.
Ngay
sau khi kết thúc phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phải gửi văn bản phát biểu ý
kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ án.
4.
Các thành viên Hội đồng xét xử giám đốc thẩm phát biểu ý kiến và thảo luận. Hội
đồng xét xử giám đốc thẩm nghị án và biểu quyết về việc giải quyết vụ án và
công bố nội dung quyết định về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa. Việc nghị
án phải được thực hiện theo các nguyên tắc quy định tại Điều 264 của Bộ luật
này.
5.
Trường hợp Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao xét xử theo quy định tại
điểm a khoản 1 Điều 337 của Bộ luật này thì quyết định của Hội đồng xét xử phải
được tất cả thành viên tham gia Hội đồng biểu quyết tán thành.
Trường
hợp xét xử theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 337 của Bộ luật này thì phiên
tòa xét xử của toàn thể Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao phải có ít
nhất hai phần ba tổng số thành viên tham gia; quyết định của Ủy ban Thẩm phán
phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành.
6.
Trường hợp Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử theo quy định tại
điểm a khoản 2 Điều 337 của Bộ luật này thì quyết định của Hội đồng xét xử phải
được tất cả thành viên tham gia Hội đồng biểu quyết tán thành.
Trường
hợp xét xử theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 337 của Bộ luật này thì phiên
tòa xét xử của toàn thể Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải có ít
nhất hai phần ba tổng số thành viên tham gia; quyết định của Hội đồng Thẩm phán
phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành.
Điều 342. Phạm vi giám đốc thẩm
1.
Hội đồng xét xử giám đốc thẩm chỉ xem xét lại phần quyết định của bản án, quyết
định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét
nội dung kháng nghị.
2.
Hội đồng xét xử giám đốc thẩm có quyền xem xét phần quyết định của bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật không bị kháng nghị hoặc không liên quan
đến việc xem xét nội dung kháng nghị, nếu phần quyết định đó xâm phạm đến lợi
ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, lợi ích của người thứ ba không phải là
đương sự trong vụ án.
Điều 343. Thẩm quyền của Hội đồng xét xử giám đốc
thẩm
Hội
đồng xét xử giám đốc thẩm có thẩm quyền sau đây:
1.
Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định của Tòa án đã có
hiệu lực pháp luật;
2.
Hủy bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và giữ nguyên bản
án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp dưới đã bị hủy hoặc bị sửa;
3.
Hủy một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp
luật để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm hoặc xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm;
4.
Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ giải quyết vụ án;
5.
Sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp
luật.
Điều 344. Giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp
luật của Tòa án cấp dưới đã bị hủy hoặc bị sửa
Hội
đồng xét xử giám đốc thẩm ra quyết định hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật bị kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới
xét xử đúng pháp luật nhưng đã bị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
bị kháng nghị hủy bỏ hoặc sửa đổi một phần hay toàn bộ.
Trường
hợp bản án, quyết định của Tòa án đã thi hành được một phần hoặc toàn bộ thì
Hội đồng xét xử giám đốc thẩm phải giải quyết hậu quả của việc thi hành án.
Điều 345. Hủy một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết
định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm
hoặc xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm
Hội
đồng xét xử giám đốc thẩm ra quyết định hủy một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết
định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị để xét xử lại theo thủ
tục sơ thẩm hoặc xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm trong trường hợp sau đây:
1.
Việc thu thập chứng cứ và chứng minh chưa được thực hiện đầy đủ hoặc không theo
đúng quy định tại Chương VII của Bộ luật này;
2.
Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan
của vụ án hoặc có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật;
3.
Thành phần của Hội đồng xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm không đúng quy định của
Bộ luật này hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng ảnh hưởng đến
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Điều 346. Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật và đình chỉ giải quyết vụ án
Hội
đồng xét xử giám đốc thẩm ra quyết định hủy bản án, quyết định của Tòa án đã có
hiệu lực pháp luật và đình chỉ giải quyết vụ án, nếu vụ án đó thuộc một trong
các trường hợp quy định tại Điều 217 của Bộ luật này.
Trường
hợp bản án, quyết định của Tòa án đã thi hành được một phần hoặc toàn bộ thì
Hội đồng xét xử giám đốc thẩm phải giải quyết hậu quả của việc thi hành án.
Điều 347. Sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết
định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
1.
Hội đồng xét xử giám đốc thẩm ra quyết định sửa một phần hoặc toàn bộ bản án,
quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật khi có đủ các điều kiện sau đây:
a)
Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã đầy đủ, rõ ràng; có đủ căn cứ để làm rõ
các tình tiết trong vụ án;
b)
Việc sửa bản án, quyết định bị kháng nghị không làm ảnh hưởng đến quyền, nghĩa
vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác.
2.
Trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã thi hành được một phần hoặc toàn bộ
thì Hội đồng xét xử giám đốc thẩm phải giải quyết hậu quả của việc thi hành án.
Điều 348. Quyết định giám đốc thẩm
1.
Hội đồng xét xử giám đốc thẩm ra quyết định nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam.
2.
Quyết định giám đốc thẩm phải có các nội dung sau đây:
a)
Ngày, tháng, năm và địa điểm mở phiên tòa giám đốc thẩm;
b)
Họ, tên các thành viên Hội đồng xét xử giám đốc thẩm. Trường hợp Hội đồng xét
xử giám đốc thẩm là Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao hoặc Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao thì ghi họ, tên, chức vụ của chủ tọa phiên tòa và
số lượng thành viên tham gia xét xử;
c)
Họ, tên Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giám đốc thẩm;
d)
Tên vụ án mà Hội đồng đưa ra xét xử giám đốc thẩm;
đ)
Tên, địa chỉ của các đương sự trong vụ án;
e)
Tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật bị kháng nghị;
g)
Quyết định kháng nghị, lý do kháng nghị;
h)
Nhận định của Hội đồng xét xử giám đốc thẩm, trong đó phải phân tích quan điểm
về việc giải quyết vụ án và những căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận
kháng nghị;
i)
Điểm, khoản, điều của Bộ luật tố tụng dân sự, văn bản quy phạm pháp luật khác
mà Hội đồng xét xử giám đốc thẩm căn cứ để ra quyết định;
k)
Quyết định của Hội đồng xét xử giám đốc thẩm.
3.
Quyết định của Hội đồng xét xử giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao cần có lập luận để làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu
khác nhau; phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên
nhân, đường lối xử lý, quy phạm pháp luật cần áp dụng (nếu có).
Điều 349. Hiệu lực của quyết định giám đốc thẩm
Quyết
định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Hội đồng giám đốc thẩm ra
quyết định.
Điều 350. Gửi quyết định giám đốc thẩm
1. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra
quyết định, Hội đồng xét xửgiám đốc thẩm phải gửi quyết định
giám đốc thẩm cho cơ quan, tổ chức, cá nhân sau đây:
a) Đương sự, người khác có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo
quyết định giám đốc thẩm;
b) Tòa án ra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật bị kháng nghị;
c) Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan thi hành án dân
sự có thẩm quyền.
2. Quyết định giám đốc thẩm được Tòa án có thẩm
quyền giám đốc thẩm công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có),
trừ quyết định có chứa thông tin quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này.
Chương XXI. THỦ TỤC TÁI
THẨM
Điều 351. Tính chất của tái thẩm
Tái
thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị
vì có tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản
án, quyết định mà Tòa án, các đương sự không biết được khi Tòa án ra bản án,
quyết định đó.
Điều 352. Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
Bản
án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục
tái thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây:
1.
Mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương sự đã không thể biết
được trong quá trình giải quyết vụ án;
2.
Có cơ sở chứng minh kết luận của người giám định, lời dịch của người phiên dịch
không đúng sự thật hoặc có giả mạo chứng cứ;
3.
Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án hoặc
cố ý kết luận trái pháp luật;
4.
Bản án, quyết định hình sự, hành chính, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh
doanh, thương mại, lao động của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước mà
Tòa án căn cứ vào đó để giải quyết vụ án đã bị hủy bỏ.
Điều 353. Thông báo và xác minh tình tiết mới được
phát hiện
1.
Đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có quyền phát hiện tình tiết mới
của vụ án và thông báo bằng văn bản cho người có thẩm quyền kháng nghị quy định
tại Điều 354 của Bộ luật này.
2.
Trường hợp phát hiện tình tiết mới của vụ án, Viện kiểm sát, Tòa án phải thông
báo bằng văn bản cho người có thẩm quyền kháng nghị quy định tại Điều 354 của
Bộ luật này.
Điều 354. Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục
tái thẩm
1.
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có
thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao; bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật
của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội
đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
2.
Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có
thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi
thẩm quyền theo lãnh thổ.
3.
Người đã kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có quyền quyết
định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đó cho đến khi có quyết định tái
thẩm.
Điều 355. Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
Thời
hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là 01 năm, kể từ ngày người có thẩm quyền
kháng nghị biết được căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm quy định tại
Điều 352 của Bộ luật này.
Điều 356. Thẩm quyền của Hội đồng xét xử tái thẩm
Hội
đồng xét xử tái thẩm có thẩm quyền sau đây:
1. https://docluat.vn/archive/2143/
2. https://docluat.vn/archive/2290/
3. https://docluat.vn/archive/1633/
1.
Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật;
2.
Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại theo thủ
tục do Bộ luật này quy định;
3.
Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ giải quyết vụ án.
Điều 357. Áp dụng các quy định về thủ tục giám đốc
thẩm
Các quy định khác về thủ tục tái thẩm được thực
hiện như các quy định của
Bộ luật này về thủ tục giám đốc thẩm.
Chương XXII. THỦ TỤC ĐẶC
BIỆT XEM XÉT LẠI QUYẾT ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Điều 358. Yêu
cầu, kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao
1. Khi có căn cứ xác định quyết định của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc phát
hiện tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định mà
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đương sự đã không thể biết được khi
ra quyết định đó, nếu có yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội, kiến nghị của
Ủy ban tư pháp của Quốc hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
tối cao hoặc đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét lại quyết định đó.
2. Trường hợp có yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc
hội thì Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm báo cáo Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao để xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao.
3. Trường hợp có kiến nghị của Ủy ban tư pháp của
Quốc hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao phát hiện vi phạm, tình tiết mới thì Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao có trách nhiệm báo cáo Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao xem xét kiến nghị, đề nghị đó.
4. Phiên họp của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao xem xét kiến nghị, đề nghị quy định tại khoản 3 Điều này phải có sự
tham dự của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Điều 359. Thủ
tục xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
1. Sau khi nhận được yêu cầu của Ủy ban thường vụ
Quốc hội, kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội hoặc sau khi Chánh án Tòa
án nhân dân tối cao có văn bản đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 358 của
Bộ luật này, Tòa án nhân dân tối cao gửi cho Viện
kiểm sát nhân dân tối cao bản sao văn bản yêu cầu, kiến nghị hoặc đề nghị đó
kèm theo hồ sơ vụ án để Viện kiểm sát nhân dân tối cao nghiên cứu và chuẩn bị ý
kiến phát biểu tại phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị, yêu cầu. Trong thời hạn
15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải
trả lại hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tối cao.
2. Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được
kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao hoặc kể từ ngày Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có văn
bản đề nghị thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải mở phiên họp để
xem xét kiến nghị, đề nghị.
Tòa án nhân dân tối cao thông báo bằng văn bản về
thời gian mở phiên họp để xem xét kiến nghị, đề nghị cho Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao.
Đại diện Ủy ban tư pháp của Quốc hội được mời tham dự phiên họp
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xem xét kiến nghị của Ủy ban tư pháp của
Quốc hội.
3. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem
xét kiến nghị, đề nghị theo trình tự như sau:
a) Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tự mình hoặc
phân công một thành viên Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trình bày
tóm tắt nội dung vụ án và quá trình giải quyết vụ án;
b) Đại diện Ủy ban tư pháp của Quốc hội, Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có kiến nghị, đề nghị xem
xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trình bày về
nội dung kiến nghị, đề nghị; căn cứ của việc kiến nghị, đề nghị; phân tích,
đánh giá các tình tiết của vụ án, chứng cứ cũ và chứng cứ mới bổ sung (nếu có)
để làm rõ việc vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quyết định của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hoặc những tình tiết quan trọng mới có thể
làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao;
c) Trường hợp xem xét kiến nghị của Ủy ban tư pháp
của Quốc hội hoặc xem xét đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phát biểu quan điểm và lý do nhất trí
hoặc không nhất trí với kiến nghị, đề nghị đó.
Ý kiến phát biểu của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao phải thể hiện bằng văn bản, có chữ ký của Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao và phải được gửi cho Tòa án nhân dân tối cao trong thời hạn 05
ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc phiên họp;
d) Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thảo
luận và biểu quyết theo đa số về việc nhất trí hoặc không nhất trí với kiến
nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao;
đ) Trường hợp nhất trí với kiến nghị của Ủy ban tư
pháp của Quốc hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
hoặc đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao quyết định về việc mở phiên họp để xem xét lại quyết định của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đồng thời giao cho Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao tổ chức nghiên cứu hồ sơ, báo cáo Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao xem xét, quyết định tại phiên họp xem xét lại quyết định của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Trường hợp không nhất trí kiến nghị, đề nghị thì
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho cá
nhân, cơ quan đã kiến nghị, đề nghị;
e) Mọi diễn biến tại phiên họp xem xét kiến nghị,
đề nghị và các quyết định được thông qua tại phiên họp phải được ghi vào biên
bản phiên họp và lưu hồ sơ xem xét kiến nghị, đề nghị;
g) Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày kết
thúc phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
gửi cho Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Ủy ban tư pháp của
Quốc hội văn bản thông báo về việc Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
nhất trí hoặc không nhất trí với kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
4. Theo yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc
khi có quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc mở phiên họp để xem xét lại
quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định tại
điểm đ khoản 3 Điều này thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức việc
nghiên cứu hồ sơ vụ án, xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ trong trường hợp
cần thiết.
Việc nghiên cứu hồ sơ vụ án, xác minh, thu thập tài
liệu, chứng cứ phải làm rõ có hay không có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc
tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
5. Trong thời hạn 04 tháng, kể từ ngày nhận được
yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định tại khoản 2 Điều 358 của Bộ luật
này hoặc kể từ ngày có quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao quy định tại điểm đ khoản 3 Điều này, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao phải mở phiên họp với sự tham gia của toàn thể Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao để xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao.
Tòa án nhân dân tối cao gửi cho Viện kiểm sát nhân
dân tối cao văn bản thông báo về thời gian mở phiên họp xem xét lại quyết định
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao kèm theo hồ sơ vụ án. Trong thời
hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nhân dân tối cao
phải trả lại hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tối cao.
Phiên họp Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao phải có sự tham dự của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trường
hợp xét thấy cần thiết, Tòa án nhân dân tối cao có thể mời cơ quan, tổ chức, cá
nhân có liên quan tham dự phiên họp.
6. Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải tham dự phiên họp xem xét lại quyết
định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và phát biểu quan điểm về
việc có hay không có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc tình tiết quan trọng mới có thể làm
thay đổi cơ bản nội dung quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao và quan điểm về việc giải quyết vụ án.
Ý kiến phát biểu của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao phải thể hiện bằng văn bản, có chữ ký của Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao và phải được gửi cho Tòa án nhân dân tối cao trong thời hạn 05
ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc phiên họp.
7. Trong thời hạn 01 tháng, kể từ
ngày Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ra quyết
định quy định tại khoản 1 Điều 360 của Bộ luật này, Tòa án nhân dân tối cao gửi
quyết định cho Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ủy ban tư pháp của Quốc hội, Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân đã giải quyết vụ án và các đương sự.
Điều 360. Thẩm quyền xem xét lại quyết định của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
1. Sau khi nghe Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
báo cáo, nghe ý kiến của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, của cơ
quan, tổ chức, cá nhân có liên quan được mời tham dự (nếu có) và khi xét thấy
quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có vi phạm pháp luật
nghiêm trọng hoặc có tình tiết quan trọng mới làm thay đổi cơ bản nội dung
quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới có vi phạm pháp luật nghiêm trọng
hoặc có tình tiết quan trọng mới làm thay đổi cơ bản nội dung bản án, quyết
định thì tùy từng trường hợp, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định như
sau:
a) Hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao, hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và quyết định
về nội dung vụ án;
b) Hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao, hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và xác định
trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Tòa án nhân dân tối cao có quyết định vi
phạm pháp luật nghiêm trọng bị hủy do lỗi vô ý hoặc cố ý và gây thiệt hại cho
đương sự hoặc xác định trách nhiệm bồi hoàn giá trị tài sản theo quy định của
pháp luật;
c) Hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao, hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để giao hồ sơ
vụ án cho Tòa án cấp dưới giải quyết theo quy định của pháp luật.
2. Quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao phải được ít nhất ba phần tư tổng số thành viên của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao biểu quyết tán thành.
Phần thứ sáu. THỦ TỤC GIẢI
QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Chương XXIII. QUY ĐỊNH CHUNG
VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Điều 361. Phạm
vi áp dụng
Việc dân sự là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân không
có tranh chấp, nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự
kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia
đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cơ quan, tổ chức, cá
nhân khác; yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia
đình, kinh doanh, thương mại, lao động.
Những quy định của Phần này được áp dụng để giải quyết việc dân
sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 9 và 10 Điều 27, các khoản 1, 2,
3, 4, 5, 6, 7, 8, 10 và 11 Điều 29, các khoản 1, 2, 3 và 6 Điều 31, các khoản
1, 2 và 5 Điều 33 của Bộ luật này. Trường hợp Phần này không quy định thì áp dụng những quy
định khác của Bộ luật này để giải quyết việc dân sự.
Điều 362. Đơn
yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự
1. Người yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự phải
gửi đơn đến Tòa án có thẩm quyền quy định tại Mục 2 Chương III của Bộ luật này.
Trường
hợp Chấp hành viên yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự theo quy định của Luật
thi hành án dân sự thì có quyền, nghĩa vụ của người yêu cầu giải quyết việc dân
sự theo quy định của Bộ luật này.
2. Đơn yêu cầu phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm làm đơn;
b) Tên Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc dân sự;
c) Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư
điện tử (nếu có) của người yêu cầu;
d) Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết và
lý do, mục đích, căn cứ của việc yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự đó;
đ) Tên, địa chỉ của những người có liên quan đến
việc giải quyết việc
dân sự đó (nếu có);
e) Các thông tin khác mà người yêu cầu xét thấy cần
thiết cho việc giải quyết yêu cầu của mình;
g) Người yêu cầu là cá nhân phải ký tên hoặc điểm
chỉ, nếu là cơ quan, tổ chức thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải
ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn; trường hợp tổ chức yêu cầu là doanh
nghiệp thì việc sử dụng con dấu được thực hiện theo quy định của Luật doanh
nghiệp.
3. Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải gửi tài
liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.
Điều 363. Thủ
tục nhận và xử lý đơn yêu cầu
1. Thủ tục nhận đơn yêu cầu được thực hiện theo quy
định tại khoản 1 Điều 191 của Bộ luật này.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận
đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo, Chánh án Tòa án phân công Thẩm
phán giải quyết đơn yêu cầu.
2. Trường hợp đơn yêu cầu chưa ghi đầy đủ nội dung theo quy định
tại khoản 2 Điều 362 của Bộ luật này thì Thẩm phán yêu cầu người yêu cầu sửa đổi, bổ
sung trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu. Thủ tục sửa đổi, bổ
sung đơn yêu cầu được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 193 của Bộ luật
này.
3. Trường hợp người yêu cầu thực hiện đầy đủ yêu cầu sửa đổi, bổ
sung thì Thẩm phán tiến hành thủ tục thụ lý việc dân sự.
Hết thời
hạn quy định tại khoản 2 Điều này mà người yêu cầu không sửa đổi, bổ sung đơn
yêu cầu thì Thẩm phán trả lại đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho
họ.
4. Trường hợp xét thấy đơn yêu cầu và tài liệu,
chứng cứ kèm theo đã đủ điều kiện thụ lý thì Thẩm phán thực hiện như sau:
a) Thông báo cho người yêu cầu về việc nộp lệ phí yêu cầu giải
quyết việc dân sự trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông
báo nộp lệ phí, trừ
trường hợp người đó được miễn
hoặc không phải nộp lệ phí theo quy định của pháp luật về phí, lệ phí;
b) Tòa án thụ lý đơn yêu cầu khi người yêu cầu nộp
cho Tòa án biên lai thu
tiền lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự;
c) Trường hợp người yêu cầu được miễn hoặc không phải nộp lệ phí
thì Thẩm phán thụ lý việc dân sự kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu.
Điều 364. Trả
lại đơn yêu cầu
1. Tòa án trả lại đơn yêu cầu trong những trường
hợp sau đây:
a) Người yêu cầu không có quyền yêu cầu hoặc không
có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;
b) Sự việc người yêu cầu yêu cầu đã được Tòa án hoặc cơ quan nhà
nước có thẩm quyền giải quyết;
c) Việc dân sự không thuộc thẩm quyền giải quyết
của Tòa án;
d) Người yêu cầu không sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu
trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 363 của Bộ luật này;
đ) Người yêu cầu không nộp lệ phí trong thời hạn
quy định tại điểm a khoản 4
Điều 363 của Bộ luật này, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp lệ phí
hoặc chậm nộp vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan;
e) Người yêu cầu rút đơn yêu cầu;
g) Những trường hợp khác theo quy định của pháp
luật.
2. Khi trả lại đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ
kèm theo, Tòa án phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.
3. Việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại việc trả
lại đơn yêu cầu được thực hiện theo quy định tại Điều 194 của Bộ luật này.
Điều 365. Thông
báo thụ lý đơn yêu cầu
1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ
lý đơn yêu cầu, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự, cho Viện kiểm
sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý đơn yêu cầu.
2. Văn bản thông báo phải có các nội dung chính sau
đây:
a) Ngày, tháng, năm làm văn bản thông báo;
b) Tên, địa chỉ Tòa án đã thụ lý đơn yêu cầu;
c) Tên, địa chỉ của đương sự;
d) Những vấn đề cụ thể đương sự yêu cầu Tòa án giải
quyết;
đ) Danh mục tài liệu, chứng cứ đương sự nộp kèm
theo đơn yêu cầu;
e) Thời hạn người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
phải có ý kiến bằng văn bản nộp cho Tòa án đối với yêu cầu của người yêu cầu và
tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có);
g) Hậu quả pháp lý của việc người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan không nộp cho Tòa án văn bản về ý kiến của mình đối với yêu
cầu giải quyết việc dân sự.
Điều 366. Chuẩn
bị xét đơn yêu cầu
1. Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu là 01 tháng, kể từ ngày
Tòa án thụ lý đơn yêu cầu,
trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác.
2. Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, Tòa án
tiến hành công việc sau đây:
a) Trường hợp xét thấy tài liệu, chứng cứ chưa đủ
căn cứ để Tòa án giải quyết thì Tòa án yêu cầu đương sự bổ sung tài liệu, chứng
cứ trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Tòa án;
b) Trường hợp đương sự có yêu cầu hoặc khi xét thấy
cần thiết thì Thẩm phán ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung
cấp tài liệu, chứng cứ; triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định
giá tài sản. Nếu
hết thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu quy định tại khoản 1 Điều này mà chưa có
kết quả giám định, định giá tài sản thì thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu được kéo dài nhưng
không quá 01 tháng;
c) Quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu và trả
lại đơn yêu cầu, tài liệu, chứng cứ kèm theo nếu người yêu cầu rút đơn yêu cầu;
d) Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự.
3. Tòa án phải gửi ngay quyết định mở phiên họp
giải quyết việc dân sự và hồ sơ việc dân sự cho Viện kiểm sát cùng cấp để
nghiên cứu. Viện kiểm sát phải nghiên cứu trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày
nhận được hồ sơ; hết thời hạn này, Viện kiểm sát phải trả hồ sơ cho Tòa án để
mở phiên họp giải quyết việc dân sự.
4. Tòa án phải mở phiên họp để giải quyết việc dân
sự trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp.
Điều 367. Những
người tham gia phiên họp giải quyết việc dân sự
1. Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia phiên họp;
trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.
2. Người yêu cầu hoặc người đại diện hợp pháp,
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ phải tham gia phiên họp theo giấy
triệu tập của Tòa án.
Người yêu cầu vắng mặt lần thứ nhất thì Tòa án hoãn
phiên họp, trừ trường hợp người yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết việc dân sự
vắng mặt họ. Trường hợp người yêu cầu đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà
vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ yêu cầu và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải
quyết việc dân sự; trong trường hợp này, quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc
dân sự đó theo thủ tục do Bộ luật này quy định vẫn được bảo đảm.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc
người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ được Tòa
án triệu tập tham gia phiên họp. Trong trường hợp cần thiết, Tòa án có thể
triệu tập người làm chứng, người giám định, người phiên dịch tham gia phiên
họp; nếu có người vắng mặt thì Tòa án quyết định hoãn phiên họp hoặc vẫn tiến
hành phiên họp.
Điều 368. Quyết
định việc thay đổi người tiến hành tố tụng khi giải quyết việc dân sự
1. Trước khi mở phiên họp, việc thay đổi Thẩm phán,
Thư ký phiên họp do
Chánh án của Tòa án đang giải quyết việc dân sự đó quyết định; nếu Thẩm phán bị
thay đổi là Chánh án của Tòa án đang giải quyết việc dân sự đó thì việc thay
đổi do Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp quyết định.
2. Tại phiên họp giải quyết việc dân sự, việc thay đổi
Thẩm phán, Thư ký phiên
họp được thực hiện như sau:
a) Trường hợp việc dân sự do một Thẩm phán giải
quyết thì việc thay đổi Thẩm phán, Thư ký phiên họp do Chánh án của Tòa án đang giải
quyết việc dân sự đó quyết định; nếu Thẩm phán bị thay đổi là Chánh án của Tòa
án đang giải quyết việc dân sự đó thì việc thay đổi do Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp quyết
định;
b) Trường hợp việc dân sự do Hội đồng giải quyết
việc dân sự gồm ba Thẩm phán giải quyết thì việc thay đổi thành viên Hội đồng, Thư ký phiên họp do Hội
đồng giải quyết việc dân sự quyết định.
3. Trước khi mở phiên họp, việc thay đổi Kiểm sát
viên do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết định.
Tại phiên họp, việc thay đổi Kiểm sát viên do Thẩm phán, Hội đồng giải quyết việc dân sự quyết định. Trường hợp phải
thay đổi Kiểm sát viên thì Thẩm phán, Hội đồng giải quyết việc dân sự ra quyết định
hoãn phiên họp và thông
báo cho Viện kiểm sát.
Việc cử Kiểm sát viên thay thế Kiểm sát viên bị
thay đổi do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết định. Nếu Kiểm sát viên bị
thay đổi là Viện trưởng Viện kiểm sát thì do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên
trực tiếp quyết định.
Điều 369. Thủ
tục tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự
1. Phiên họp giải quyết việc dân sự được tiến hành
theo trình tự sau đây:
a) Thư ký phiên họp báo cáo Thẩm phán, Hội đồng giải quyết
việc dân sự về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên họp;
b) Thẩm phán chủ tọa phiên họp khai mạc phiên họp,
kiểm tra về sự có mặt, vắng mặt của những người được triệu tập tham gia phiên
họp và căn cước của họ, giải thích quyền và nghĩa vụ của người tham gia phiên
họp;
c) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người
yêu cầu, người yêu cầu hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày về những
vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết, lý do, mục đích và căn cứ của việc yêu
cầu Tòa án giải quyết việc dân sự đó;
d) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc
người đại diện hợp pháp của họ trình bày ý kiến về những vấn đề có liên quan
đến quyền, nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc giải
quyết việc dân sự;
đ) Người làm chứng trình bày ý kiến; người giám
định trình bày kết luận giám định, giải thích những vấn đề còn chưa rõ hoặc có
mâu thuẫn (nếu có);
e) Thẩm phán, Hội đồng giải quyết việc dân sự xem
xét tài liệu, chứng cứ;
g) Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát
về việc giải quyết việc dân sự và gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ
sơ việc dân sự ngay sau khi kết thúc phiên họp;
h) Thẩm phán, Hội đồng giải quyết việc dân sự xem
xét, quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự.
2. Trường hợp có người được Tòa án triệu tập tham gia phiên
họp vắng mặt thì Thẩm phán, Hội đồng giải quyết việc dân sự cho công bố lời khai, tài liệu,
chứng cứ do người đó cung cấp trước khi xem xét tài liệu, chứng cứ.
Điều 370. Quyết
định giải quyết việc dân sự
1. Quyết định giải quyết việc dân sự phải có các
nội dung sau đây:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định;
b) Tên Tòa án ra quyết định;
c) Họ, tên của Thẩm phán, Kiểm sát viên, Thư ký phiên họp;
d) Tên, địa chỉ của người yêu cầu giải quyết việc
dân sự;
đ) Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết;
e) Tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan;
g) Nhận định của Tòa án và những căn cứ để chấp
nhận hoặc không chấp nhận đơn yêu cầu;
h) Căn cứ pháp luật để giải quyết việc dân sự;
i) Quyết định của Tòa án;
k) Lệ phí phải nộp.
2. Quyết định giải quyết việc dân sự phải được gửi
cho Viện kiểm sát cùng cấp, người yêu cầu giải quyết việc dân sự, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự trong thời hạn 05 ngày
làm việc, kể từ ngày ra quyết định.
Việc
gửi quyết định giải quyết việc dân sự cho cơ quan thi hành án được thực hiện theo quy định của
Luật thi hành án dân sự.
3.
Quyết định giải quyết việc dân sự có hiệu lực pháp luật của Tòa án có
liên quan đến việc thay đổi hộ tịch của cá nhân phải được Tòa án gửi cho Ủy ban nhân dân
nơi đã đăng ký hộ tịch của cá nhân đó theo quy định của Luật hộ tịch.
4. Quyết
định giải quyết việc dân sự có hiệu lực pháp luật của Tòa án được công bố trên
Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có), trừ quyết định có chứa thông tin quy
định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này.
Điều 371. Kháng
cáo, kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự
Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng
cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết
việc dân sự để yêu cầu Tòa án trên một cấp trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục
phúc thẩm, trừ quyết định giải quyết việc dân sự quy định tại khoản 7 Điều 27,
khoản 2 và khoản 3 Điều 29 của Bộ luật này.
Điều 372. Thời
hạn kháng cáo, kháng nghị
1. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến việc giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định giải quyết
việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Trường hợp
họ không có mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự thì thời hạn đó được tính
từ ngày họ nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết
định đó được thông báo, niêm yết.
2. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết
định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực
tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết
định.
Điều 373. Chuẩn
bị xét kháng cáo, kháng nghị
1. Thời hạn chuẩn bị xét kháng cáo, kháng nghị là
15 ngày, kể từ ngày Tòa án nhận kháng cáo, kháng nghị.
2. Trong thời hạn chuẩn bị xét kháng cáo, kháng
nghị, Tòa án tiến hành các công việc sau đây:
a) Trường hợp xét thấy tài liệu, chứng cứ chưa đủ
căn cứ để Tòa án giải quyết thì Tòa án yêu cầu đương sự bổ sung tài liệu, chứng
cứ trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Tòa án;
b) Trường hợp đương sự có yêu cầu hoặc khi xét thấy
cần thiết, Thẩm phán ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp
tài liệu, chứng cứ; triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá.
Nếu hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này mà chưa có kết quả giám định,
định giá thì thời hạn chuẩn bị xét kháng cáo, kháng nghị được kéo dài nhưng
không quá 15 ngày;
c) Trong thời hạn chuẩn bị xét kháng cáo, kháng
nghị, nếu tất cả người kháng cáo rút đơn kháng cáo, Viện kiểm sát rút kháng
nghị thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết việc xét đơn yêu cầu theo thủ
tục phúc thẩm. Trong trường hợp này, quyết định giải quyết việc dân sự theo thủ tục sơ thẩm có hiệu
lực pháp luật kể từ ngày Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ;
d) Quyết định mở phiên họp phúc thẩm giải quyết
việc dân sự.
3. Tòa án phải gửi ngay quyết định mở phiên họp
phúc thẩm giải quyết việc dân sự và hồ sơ việc dân sự cho Viện kiểm sát cùng
cấp để nghiên cứu. Viện kiểm sát phải nghiên cứu trong thời hạn 07 ngày, kể từ
ngày nhận được hồ sơ; hết thời hạn này, Viện kiểm sát phải trả hồ sơ cho Tòa án
để mở phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự.
4. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định
mở phiên họp, Thẩm phán phải mở phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự.
Điều 374. Những
người tham gia phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự
1. Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia phiên
họp phúc thẩm giải
quyết việc dân sự; trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt thì
Tòa án vẫn tiến hành phiên họp, trừ trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị phúc
thẩm.
2. Người có đơn kháng cáo, người đại diện hợp pháp,
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ phải tham gia phiên họp theo giấy
triệu tập của Tòa án.
Người kháng cáo vắng mặt lần thứ nhất có lý do
chính đáng thì Tòa án hoãn phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự, trừ
trường hợp người kháng cáo yêu cầu giải quyết vắng mặt họ. Nếu người kháng cáo
đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ kháng
cáo và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết phúc thẩm việc dân sự đối với
yêu cầu kháng cáo của họ, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt
hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người
đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ được Tòa án
triệu tập tham gia phiên họp. Trong trường hợp cần thiết, Tòa án có thể triệu
tập người làm chứng, người giám định, người phiên dịch tham gia phiên họp; nếu
có người vắng mặt thì Tòa án quyết định hoãn phiên họp hoặc vẫn tiến hành phiên
họp.
Điều 375. Thủ
tục tiến hành phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự
1. Phiên họp phúc thẩm giải quyết việc dân sự được
tiến hành theo trình tự sau đây:
a) Thư ký phiên họp báo cáo về sự có mặt, vắng mặt của
những người tham gia phiên họp;
b) Thẩm phán chủ tọa phiên họp khai mạc phiên họp, kiểm tra về
sự có mặt, vắng mặt của những người được triệu tập tham gia phiên họp và căn
cước của họ, giải thích quyền và nghĩa vụ của người tham gia phiên họp;
c) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người
kháng cáo, người kháng cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày về nội
dung kháng cáo và căn cứ của việc kháng cáo;
Trường hợp chỉ có Viện kiểm sát kháng nghị thì Kiểm
sát viên trình bày về nội dung kháng nghị và căn cứ của việc kháng nghị. Trường
hợp vừa có kháng cáo, vừa có kháng nghị thì các đương sự trình bày về nội dung
kháng cáo và các căn cứ của việc kháng cáo trước, sau đó Kiểm sát viên trình
bày về nội dung kháng nghị và căn cứ của việc kháng nghị. Trường hợp Viện kiểm
sát không kháng nghị thì Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về
việc giải quyết kháng cáo trước khi Hội đồng phúc thẩm ra quyết định.
Ngay
sau khi kết thúc phiên họp, Kiểm sát viên phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa
án để lưu vào hồ sơ việc dân sự;
d) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc
người đại diện hợp pháp của họ trình bày ý kiến về những vấn đề có liên quan
đến quyền, nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong nội dung
kháng cáo, kháng nghị;
đ) Người làm chứng trình bày ý kiến; người giám
định trình bày kết luận giám định, giải thích những vấn đề còn chưa rõ hoặc có
mâu thuẫn.
2. Trường hợp có người được Tòa án triệu tập tham gia phiên
họp vắng mặt thì Thẩm phán cho công bố lời khai, tài liệu, chứng cứ do người đó
cung cấp.
3. Hội đồng phúc thẩm xem xét quyết định của Tòa án
cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, tài liệu, chứng cứ có liên quan và ra một
trong các quyết định sau đây:
a) Giữ nguyên quyết định giải quyết việc dân sự của
Tòa án cấp sơ thẩm;
b) Sửa quyết định giải quyết việc dân sự của Tòa án
cấp sơ thẩm;
c) Hủy quyết định giải quyết việc dân sự của Tòa án
cấp sơ thẩm và chuyển hồ sơ việc dân sự cho Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết
lại theo thủ tục sơ thẩm;
d) Hủy quyết định giải quyết việc dân sự của Tòa án
cấp sơ thẩm và đình chỉ giải quyết việc dân sự;
đ) Đình chỉ giải quyết việc xét đơn yêu cầu theo
thủ tục phúc thẩm nếu tại phiên họp tất cả người kháng cáo rút đơn kháng cáo,
Viện kiểm sát rút kháng nghị.
4. Quyết định phúc thẩm giải quyết việc dân sự có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định và được gửi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân quy định tại khoản
2 và khoản 3 Điều 370 của Bộ luật này.
5. Quyết định phúc thẩm giải quyết việc dân sự có
hiệu lực pháp luật được công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu
có), trừ quyết định có chứa thông tin quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật
này.
Chương XXIV. THỦ TỤC GIẢI
QUYẾT YÊU CẦU TUYÊN BỐ MỘT NGƯỜI MẤT NĂNG LỰC HÀNH VI DÂN SỰ, BỊ HẠN CHẾ NĂNG
LỰC HÀNH VI DÂN SỰ HOẶC CÓ KHÓ KHĂN TRONG NHẬN THỨC, LÀM CHỦ HÀNH VI
Điều 376. Quyền
yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực
hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
1.
Người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan có quyền yêu
cầu Tòa án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng
lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy
định của Bộ luật dân sự.
2.
Người thành niên không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi do tình trạng thể
chất, tinh thần nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự có quyền yêu cầu
Tòa án tuyên bố họ là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo
quy định của Bộ luật dân sự.
Điều 377. Chuẩn bị xét đơn yêu cầu
Trong
thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, theo đề nghị của người yêu cầu, Tòa án có
thể trưng cầu giám định sức khoẻ, bệnh tật của người bị yêu cầu tuyên bố bị hạn
chế năng lực hành vi dân sự hoặc giám định pháp y tâm thần đối với người bị yêu
cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức,
làm chủ hành vi. Trong trường hợp này, khi nhận được kết luận giám định, Tòa án
phải ra quyết định mở phiên họp để xét đơn yêu cầu.
Điều 378. Quyết định tuyên bố một người mất năng lực
hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận
thức, làm chủ hành vi
Trường
hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định tuyên bố một người mất năng
lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong
nhận thức, làm chủ hành vi.
Trong
quyết định tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, Tòa án phải
xác định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi
dân sự và phạm vi đại diện.
Trong
quyết định tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, Tòa
án phải chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.
Điều 379. Quyền yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố
một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc
có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
Khi
người bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành
vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi không còn ở trong
tình trạng đã bị tuyên bố thì chính người đó hoặc người có quyền, lợi ích liên
quan hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy
bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi
dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Điều 380. Quyết định của Tòa án trong trường hợp chấp
nhận yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế
năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
Trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án ra
quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn
chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Chương XXV. THỦ TỤC GIẢI
QUYẾT YÊU CẦU THÔNG BÁO TÌM KIẾM NGƯỜI VẮNG MẶT TẠI NƠI CƯ TRÚ
Điều 381. Đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng
mặt tại nơi cư trú
1.
Người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm
người vắng mặt tại nơi cư trú khi người đó biệt tích 06 tháng liền trở lên,
đồng thời có thể yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người
vắng mặt đó theo quy định của Bộ luật dân sự.
2.
Kèm theo đơn yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú,
người yêu cầu phải gửi tài liệu, chứng cứ để chứng minh là người bị yêu cầu
biệt tích 06 tháng liền trở lên; trường hợp có yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp
quản lý tài sản của người vắng mặt thì phải cung cấp tài liệu, chứng cứ về tình
hình tài sản của người đó, việc quản lý tài sản hiện có và danh sách những
người thân thích của người đó.
Điều 382. Chuẩn bị xét đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm
người vắng mặt tại nơi cư trú
Trong
thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, Tòa án ra quyết định đình chỉ xét đơn yêu
cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, nếu người bị yêu cầu
thông báo tìm kiếm trở về và yêu cầu Tòa án đình chỉ việc xét đơn yêu cầu.
Điều 383. Quyết định thông báo tìm kiếm người vắng
mặt tại nơi cư trú
Trường
hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người
vắng mặt tại nơi cư trú; trường hợp có yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý
tài sản của người vắng mặt đó tại nơi cư trú và được chấp nhận thì trong quyết
định, Tòa án còn phải quyết định áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người đó
theo quy định của Bộ luật dân sự.
Điều 384. Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi
cư trú
Thông
báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú phải có các nội dung chính sau đây:
1.
Ngày, tháng, năm ra thông báo;
2.
Tên Tòa án ra thông báo;
3.
Số và ngày, tháng, năm của quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi
cư trú;
4.
Tên, địa chỉ của người yêu cầu Tòa án thông báo;
5.
Họ, tên và ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi của người cần tìm kiếm và địa chỉ cư
trú của người đó trước khi biệt tích;
6.
Địa chỉ liên hệ của cơ quan, tổ chức, cá nhân nếu người cần tìm kiếm biết được
thông báo hoặc người khác có được tin tức về người cần tìm kiếm.
Điều 385. Công bố thông báo tìm kiếm người vắng mặt
tại nơi cư trú
1.
Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm
người vắng mặt tại nơi cư trú, thông báo này phải được đăng trên một trong các
báo hàng ngày của trung ương trong ba số liên tiếp, Cổng thông tin điện tử của
Tòa án, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (nếu có) và phát sóng trên Đài phát thanh hoặc
Đài truyền hình của trung ương ba lần trong 03 ngày liên tiếp.
2.
Chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú do
người yêu cầu chịu.
Điều 386. Hiệu lực của quyết định thông báo tìm kiếm
người vắng mặt tại nơi cư trú
Quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại
nơi cư trú quy định tại Điều 383 của Bộ luật này đương nhiên hết hiệu lực trong trường hợp
người cần tìm kiếm trở về.
Chương XXVI. THỦ TỤC GIẢI
QUYẾT YÊU CẦU TUYÊN BỐ MỘT NGƯỜI MẤT TÍCH
Điều 387. Đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích
1.
Người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người
mất tích theo quy định của Bộ luật dân sự.
2.
Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải gửi tài liệu, chứng cứ để chứng minh
người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đã biệt tích 02 năm liền trở lên mà không có
tin tức xác thực về việc người đó còn sống hoặc đã chết và chứng minh cho việc
người yêu cầu đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm; trường hợp
trước đó đã có quyết định của Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi
cư trú thì phải có bản sao quyết định đó.
Điều 388. Chuẩn bị xét đơn yêu cầu tuyên bố một người
mất tích
1.
Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một người mất
tích, Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất
tích.
2.
Nội dung thông báo và việc công bố thông báo được thực hiện theo quy định tại
Điều 384 và Điều 385 của Bộ luật này. Thời hạn thông báo tìm kiếm người bị yêu
cầu tuyên bố mất tích là 04 tháng, kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu
tiên.
3.
Trong thời hạn thông báo, nếu người bị yêu cầu tuyên bố mất tích trở về và yêu
cầu Tòa án đình chỉ việc xét đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định đình chỉ việc
xét đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích.
4.
Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày kết thúc thời hạn thông báo quy định tại
khoản 2 Điều này thì Tòa án phải mở phiên họp xét đơn yêu cầu.
Điều 389. Quyết định tuyên bố một người mất tích
Trường
hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định tuyên bố một người mất tích;
trường hợp có yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị
tuyên bố mất tích đó và được chấp nhận thì trong quyết định tuyên bố một người
mất tích, Tòa án còn phải quyết định áp dụng biện pháp quản lý tài sản của
người đó theo quy định của Bộ luật dân sự.
Điều 390. Hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích
1. Người bị Tòa án tuyên bố mất tích trở về hoặc
người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án hủy bỏ quyết định
tuyên bố một người mất tích theo quy định của Bộ luật dân sự.
2. Trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án ra
quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích, trong đó phải quyết
định về hậu quả pháp lý của việc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích
theo quy định của Bộ luật dân sự.
Chương XXVII. THỦ TỤC GIẢI
QUYẾT YÊU CẦU TUYÊN BỐ MỘT NGƯỜI LÀ ĐÃ CHẾT
Điều 391. Quyền yêu cầu tuyên bố một người là đã chết
1.
Người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người là
đã chết theo quy định của Bộ luật dân sự.
2.
Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải gửi tài liệu, chứng cứ để chứng minh
người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết thuộc trường hợp theo quy định của Bộ luật
dân sự.
Điều 392. Chuẩn bị xét đơn yêu cầu tuyên bố một người
là đã chết
1.
Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã
chết, Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu
tuyên bố là đã chết.
2.
Nội dung thông báo, việc công bố thông báo và thời hạn thông báo được thực hiện
theo quy định tại khoản 2 Điều 388 của Bộ luật này.
3.
Trong thời hạn thông báo, nếu người yêu cầu rút đơn yêu cầu hoặc người bị yêu
cầu tuyên bố là đã chết trở về và thông báo cho Tòa án biết thì Tòa án ra quyết
định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu.
4.
Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn thông báo thì Tòa án phải mở
phiên họp xét đơn yêu cầu.
Điều 393. Quyết định tuyên bố một người là đã chết
Trường
hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã
chết; trong quyết định này, Tòa án phải xác định ngày chết của người đó và hậu
quả pháp lý của việc tuyên bố một người là đã chết theo quy định của Bộ luật
dân sự.
Điều 394. Đơn yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một
người là đã chết
1.
Khi một người bị tuyên bố là đã chết trở về hoặc có tin tức xác thực là người
đó còn sống thì người đó hoặc người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu
cầu Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết.
2.
Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải gửi tài liệu, chứng cứ để chứng minh
người bị tuyên bố là đã chết trở về hoặc chứng minh xác thực là người đó còn
sống.
Điều 395. Quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một
người là đã chết
Trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án ra
quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết; trong quyết định
này, Tòa án phải quyết định về hậu quả pháp lý của việc hủy bỏ quyết định tuyên
bố một người là đã chết theo quy định của Bộ luật dân sự.
Chương XXVIII. THỦ TỤC GIẢI
QUYẾT YÊU CẦU CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN, THỎA THUẬN NUÔI CON, CHIA TÀI SẢN
KHI LY HÔN
Điều 396. Đơn
yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly
hôn
1. Vợ, chồng yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly
hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn phải có đơn yêu cầu. Đơn phải
có các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 362 của Bộ luật này.
2. Vợ, chồng cùng yêu cầu Tòa án công nhận thuận
tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn phải ký tên hoặc điểm
chỉ vào đơn yêu cầu. Trong trường hợp này vợ, chồng cùng được xác định là người
yêu cầu.
3. Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải gửi tài liệu, chứng
cứ chứng minh thỏa thuận về thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài
sản khi ly hôn là có căn cứ và hợp pháp.
Điều 397. Hòa
giải và công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly
hôn
1. Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, trước
khi tiến hành hòa
giải để vợ chồng đoàn tụ,
khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán có thể tham khảo ý kiến của cơ quan
quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em về hoàn cảnh
gia đình, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn và nguyện vọng của vợ, chồng, con có liên quan đến vụ án.
2. Thẩm phán phải tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ; giải thích về
quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, giữa cha, mẹ và con, giữa các thành viên
khác trong gia đình, về
trách nhiệm cấp dưỡng và các vấn đề khác liên quan đến hôn nhân và gia đình.
3.Trường hợp sau khi hòa giải, vợ,
chồng đoàn tụ thì Thẩm phán ra quyết định đình chỉ giải quyết yêu cầu của họ.
4. Trường hợp hòa giải đoàn tụ không thành thì Thẩm
phán ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương
sự theo quy định tại Điều 212 của Bộ luật này khi có đầy đủ các điều kiện sau
đây:
a) Hai bên thực sự tự nguyện ly hôn;
b) Hai bên đã thỏa thuận được với nhau về việc chia
hoặc không chia tài sản chung, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục
con;
c) Sự thỏa thuận phải bảo đảm quyền lợi chính đáng
của vợ, con.
5. Trường hợp hòa giải đoàn tụ không thành và các
đương sự không thỏa thuận được về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi
dưỡng, chăm sóc, giáo dục con thì Tòa án đình chỉ giải quyết việc dân sự về
công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn và
thụ lý vụ án để giải quyết. Tòa án không phải thông báo về việc thụ lý vụ án,
không phải phân công lại Thẩm phán giải quyết vụ án. Việc giải quyết vụ án được
thực hiện theo thủ tục chung do Bộ luật này quy định.
Chương XXIX. THỦ TỤC GIẢI
QUYẾT YÊU CẦU TUYÊN BỐ VĂN BẢN CÔNG CHỨNG VÔ HIỆU
Điều 398. Đơn
yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
1. Công chứng viên đã thực hiện việc công chứng,
người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố văn bản
công chứng vô hiệu khi có căn cứ cho rằng việc công chứng có vi phạm pháp luật
theo quy định của pháp luật về công chứng.
2. Đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố văn bản công chứng
vô hiệu phải có các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 362 của Bộ luật này.
3. Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải gửi tài liệu, chứng
cứ để chứng minh cho yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu là có căn cứ
và hợp pháp.
Điều 399. Chuẩn
bị xét đơn yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
1. Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu tuyên bố văn
bản công chứng vô hiệu là 01 tháng, kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu; hết thời hạn này, Tòa án phải
ra quyết định mở phiên họp để xét đơn yêu cầu.
2. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố văn bản công
chứng vô hiệu, Tòa án có thẩm quyền phải thông báo ngay cho tổ chức hành nghề công
chứng, Công
chứng viên đã thực hiện việc công chứng, người yêu cầu công chứng, người có
quyền, lợi ích liên quan, cơ quan nhà nước có thẩm quyền và Viện kiểm sát cùng
cấp.
3. Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, nếu
người yêu cầu rút đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn
yêu cầu.
4. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định
mở phiên họp, Tòa án phải mở phiên họp để xét đơn yêu cầu.
Điều 400. Quyết
định tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
1. Tòa án có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận đơn
yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu.
2. Trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án ra
quyết định tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu. Trong quyết định này, Tòa án phải
quyết định về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu theo
quy định của pháp luật.
Chương XXX. THỦ TỤC GIẢI
QUYẾT YÊU CẦU TUYÊN BỐ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÔ HIỆU; THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ VÔ
HIỆU
Điều 401. Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu,
thỏa ước lao động tập thể vô hiệu
1.
Người lao động, người sử dụng lao động, tổ chức đại diện tập thể lao động, cơ
quan nhà nước có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền tuyên bố hợp
đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu khi có căn cứ theo quy định
của Bộ luật lao động.
2.
Đơn yêu cầu của người lao động, người sử dụng lao động, tổ chức đại diện tập
thể lao động, văn bản yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải có các
nội dung quy định tại khoản 2 Điều 362 của Bộ luật này.
Điều 402. Xem xét yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động
vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu
1.
Thời hạn chuẩn bị xét yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu là 10 ngày,
thỏa ước lao động tập thể vô hiệu là 15 ngày, kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu
cầu. Hết thời hạn này, Tòa án phải ra quyết định mở phiên họp để xét đơn yêu
cầu.
2.
Sau khi thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao
động tập thể vô hiệu, Tòa án có trách nhiệm gửi thông báo thụ lý cho người có
đơn yêu cầu, người sử dụng lao động, tổ chức đại diện tập thể lao động và Viện
kiểm sát cùng cấp.
3.
Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn hoặc văn bản yêu cầu, nếu người yêu cầu rút yêu
cầu thì Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn, văn bản yêu cầu.
4.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp, Tòa án
phải mở phiên họp để xét yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu.
Trong
thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp, Tòa án phải mở phiên
họp để xét yêu cầu tuyên bố thỏa ước lao động tập thể vô hiệu.
5.
Khi xét đơn yêu cầu, Thẩm phán có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu
tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu.
Trường
hợp chấp nhận yêu cầu thì Thẩm phán ra quyết định tuyên bố hợp đồng lao động vô
hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu. Trong quyết định này, Tòa án phải giải
quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao
động tập thể vô hiệu.
6.
Quyết định tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô
hiệu phải gửi đến người có đơn hoặc văn bản yêu cầu, người sử dụng lao động, tổ
chức đại diện tập thể lao động và cơ quan quản lý nhà nước về lao động nơi
doanh nghiệp đóng trụ sở chính, cơ quan quản lý nhà nước về lao động cùng cấp
trong trường hợp có liên quan đến doanh nghiệp không có trụ sở chính tại Việt
Nam.
Chương XXXI. THỦ TỤC XÉT TÍNH HỢP PHÁP CỦA CUỘC
ĐÌNH CÔNG
Điều 403. Yêu cầu Tòa án xét tính hợp pháp của cuộc
đình công
1.
Trong quá trình đình công hoặc trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chấm dứt
đình công, người sử dụng lao động, tổ chức đại diện tập thể lao động có quyền
yêu cầu Tòa án xét tính hợp pháp của cuộc đình công.
2.
Người yêu cầu Tòa án xét tính hợp pháp của cuộc đình công phải làm đơn yêu cầu
gửi Tòa án. Đơn yêu cầu phải có các nội dung chính sau đây:
a)
Những nội dung quy định tại khoản 2 Điều 362 của Bộ luật này;
b)
Tên, địa chỉ của tổ chức lãnh đạo cuộc đình công;
c)
Tên, địa chỉ của người sử dụng lao động nơi tập thể lao động đình công.
3.
Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải gửi bản sao quyết định đình công,
quyết định hoặc biên bản hòa giải của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết
vụ tranh chấp lao động tập thể, tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc xét
tính hợp pháp của cuộc đình công.
Điều 404. Thủ tục gửi đơn yêu cầu Tòa án xét tính hợp
pháp của cuộc đình công
Thủ
tục gửi đơn, nhận đơn, nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ đối với việc xét và
quyết định về tính hợp pháp của cuộc đình công tại Tòa án được thực hiện theo
quy định của Bộ luật này.
Điều 405. Thẩm quyền xét tính hợp pháp của cuộc đình
công
1.
Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi xảy ra đình công có thẩm quyền xét tính hợp pháp
của cuộc đình công.
2.
Tòa án nhân dân cấp cao có thẩm quyền giải quyết kháng cáo, kháng nghị đối với
quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh về tính hợp pháp của cuộc đình công
trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.
Điều 406. Thành phần Hội đồng xét tính hợp pháp của
cuộc đình công
1.
Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét tính hợp pháp của cuộc đình công bằng Hội đồng gồm
ba Thẩm phán.
2.
Tòa án nhân dân cấp cao giải quyết kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định về
tính hợp pháp của cuộc đình công bằng Hội đồng gồm ba Thẩm phán.
Điều 407. Những người tham gia phiên họp xét tính hợp
pháp của cuộc đình công
1.
Hội đồng xét tính hợp pháp của cuộc đình công do một Thẩm phán làm chủ tọa; Thư
ký Tòa án ghi biên bản phiên họp.
2.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp.
3.
Đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động và người sử dụng lao động.
4.
Đại diện cơ quan, tổ chức theo yêu cầu của Tòa án.
Điều 408. Hoãn phiên họp xét tính hợp pháp của cuộc
đình công
1.
Phiên họp xét tính hợp pháp của cuộc đình công được hoãn theo quy định tại Điều
233 của Bộ luật này về hoãn phiên tòa.
2.
Thời hạn hoãn phiên họp xét tính hợp pháp của cuộc đình công không quá 03 ngày
làm việc, kể từ ngày có quyết định hoãn phiên họp.
Điều 409. Đình chỉ việc xét tính hợp pháp của cuộc
đình công
Tòa
án đình chỉ việc xét tính hợp pháp của cuộc đình công trong các trường hợp sau
đây:
1.
Người yêu cầu rút đơn yêu cầu;
2.
Các bên đã thoả thuận được với nhau về giải quyết cuộc đình công và có đơn yêu
cầu Tòa án không giải quyết;
3.
Người yêu cầu đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường
hợp do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan.
Điều 410. Thủ tục giải quyết đơn yêu cầu xét tính hợp
pháp của cuộc đình công
1.
Ngay sau khi nhận đơn yêu cầu, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh quyết định
thành lập Hội đồng xét tính hợp pháp của cuộc đình công và phân công một Thẩm
phán chủ trì việc giải quyết đơn yêu cầu.
2.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn yêu cầu, Thẩm phán được
phân công chủ trì việc giải quyết đơn yêu cầu phải ra quyết định mở phiên họp
xét tính hợp pháp của cuộc đình công. Quyết định mở phiên họp xét tính hợp pháp
của cuộc đình công phải được gửi ngay cho tổ chức đại diện tập thể lao động,
người sử dụng lao động, Viện kiểm sát cùng cấp và cơ quan, tổ chức liên quan.
3.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp xét tính
hợp pháp của cuộc đình công, Hội đồng xét tính hợp pháp của cuộc đình công phải
mở phiên họp xét tính hợp pháp của cuộc đình công.
Điều 411. Trình tự phiên họp xét tính hợp pháp của cuộc
đình công
1.
Thẩm phán chủ trì phiên họp xét tính hợp pháp của cuộc đình công công bố quyết
định mở phiên họp xét tính hợp pháp của cuộc đình công và tóm tắt nội dung đơn
yêu cầu.
2.
Đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động và đại diện của người sử dụng lao
động trình bày ý kiến của mình.
3.
Thẩm phán chủ trì phiên họp xét tính hợp pháp của cuộc đình công có thể yêu cầu
đại diện cơ quan, tổ chức tham gia phiên họp trình bày ý kiến.
4.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc xét tính hợp pháp của
cuộc đình công.
Ngay
sau khi kết thúc phiên họp, Kiểm sát viên phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho
Tòa án để lưu vào hồ sơ việc dân sự.
5.
Hội đồng xét tính hợp pháp của cuộc đình công thảo luận và quyết định theo đa
số.
Điều 412. Quyết định về tính hợp pháp của cuộc đình
công
1.
Quyết định của Tòa án về tính hợp pháp của cuộc đình công phải nêu rõ lý do và
căn cứ để kết luận tính hợp pháp của cuộc đình công.
Quyết
định của Tòa án về tính hợp pháp của cuộc đình công phải được công bố công khai
tại phiên họp và gửi ngay cho tổ chức đại diện tập thể lao động và người sử
dụng lao động, Viện kiểm sát cùng cấp. Tập thể lao động, người sử dụng lao động
có trách nhiệm thi hành quyết định của Tòa án nhưng có quyền kháng cáo; Viện
kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định đó.
2.
Sau khi quyết định của Tòa án về tính hợp pháp của cuộc đình công được công bố,
nếu cuộc đình công là bất hợp pháp thì người lao động đang tham gia đình công
phải ngừng ngay đình công và trở lại làm việc.
Điều 413. Trình tự, thủ tục giải quyết kháng cáo,
kháng nghị quyết định về tính hợp pháp của cuộc đình công
1. Ngay sau khi nhận đơn kháng cáo, quyết định
kháng nghị đối với quyết định về tính hợp pháp của cuộc đình công, Tòa án nhân
dân cấp cao phải có văn bản yêu cầu Tòa án đã xét tính hợp pháp của cuộc đình
công chuyển hồ sơ vụ việc để xem xét, giải quyết.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận
được văn bản yêu cầu, Tòa án đã ra quyết định về tính hợp pháp của cuộc đình
công phải chuyển hồ sơ vụ việc cho Tòa án nhân dân cấp cao để xem xét, giải quyết.
3. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận
được hồ sơ vụ việc, Chánh
án Tòa án nhân dân cấp cao quyết định thành lập Hội đồng phúc thẩm xét tính hợp pháp của cuộc đình công và phân
công một Thẩm phán chủ trì việc nghiên cứu hồ sơ.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án
nhân dân cấp cao nhận được hồ sơ vụ việc, Hội đồng phúc thẩm phải tiến hành
xét kháng cáo, kháng
nghị đối với quyết định về tính hợp pháp của cuộc đình công.
Quyết định của Hội đồng phúc thẩm xét tính hợp pháp của cuộc đình công của Tòa án
nhân dân cấp cao là quyết định cuối cùng.
Chương XXXII. THỦ TỤC GIẢI
QUYẾT CÁC VIỆC DÂN SỰ LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Điều 414. Những việc dân sự liên quan đến hoạt động
Trọng tài thương mại Việt Nam thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
1. Chỉ định, thay đổi Trọng tài viên.
2. Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm
thời.
3. Hủy phán quyết trọng tài.
4. Giải quyết khiếu nại đối với quyết định của
Hội đồng trọng tài về thỏa thuận trọng tài vô hiệu, thỏa thuận trọng tài không
thể thực hiện được, thẩm quyền của Hội đồng trọng tài.
5. Thu thập chứng cứ.
6. Triệu tập người làm chứng.
7. Đăng ký phán quyết trọng tài.
8. Các việc dân sự khác mà pháp luật về Trọng tài
thương mại Việt Nam có quy định.
Điều 415. Thủ
tục giải quyết
Thủ tục giải quyết các việc dân sự liên quan đến
hoạt động của Trọng
tài thương mại Việt Nam được thực hiện theo quy định của pháp luật về Trọng tài
thương mại Việt Nam.
Chương XXXIII. THỦ TỤC CÔNG
NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH NGOÀI TÒA ÁN
Điều 416. Công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa
án
Kết
quả hòa giải vụ việc ngoài Tòa án được Tòa án xem xét ra quyết định công nhận
là kết quả hòa giải thành vụ việc xảy ra giữa cơ quan, tổ chức, cá nhân do cơ
quan, tổ chức, người có thẩm quyền có nhiệm vụ hòa giải đã hòa giải thành theo
quy định của pháp luật về hòa giải.
Điều 417. Điều kiện công nhận kết quả hòa giải thành
ngoài Tòa án
1.
Các bên tham gia thỏa thuận hòa giải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự.
2.
Các bên tham gia thỏa thuận hòa giải là người có quyền, nghĩa vụ đối với nội
dung thỏa thuận hòa giải. Trường hợp nội dung thỏa thuận hòa giải thành liên
quan đến quyền, nghĩa vụ của người thứ ba thì phải được người thứ ba đồng ý.
3.
Một hoặc cả hai bên có đơn yêu cầu Tòa án công nhận.
4.
Nội dung thỏa thuận hòa giải thành của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không vi
phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa
vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba.
Điều 418. Đơn yêu cầu công nhận kết quả hòa giải
thành ngoài Tòa án
1.
Người yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án phải gửi đơn đến
Tòa án trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày các bên đạt được thỏa thuận hòa giải
thành.
Đơn
yêu cầu phải có các nội dung chủ yếu sau đây:
a)
Các nội dung quy định tại các điểm a, b, c, đ, e và g khoản 2 Điều 362 của Bộ
luật này;
b)
Tên, địa chỉ của cá nhân, tổ chức đã tiến hành hòa giải;
c)
Nội dung, thỏa thuận hòa giải thành yêu cầu Tòa án công nhận.
2.
Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải gửi văn bản về kết quả hòa giải thành
theo quy định của pháp luật có liên quan.
Điều 419. Thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành
ngoài Tòa án
1. Thủ tục nhận và xử lý đơn yêu cầu công nhận kết
quả hòa giải thành ngoài
Tòa án được thực hiện theo quy định tại các điều 363, 364 và 365 của Bộ luật
này.
2. Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu là 15 ngày, kể
từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu; hết thời hạn này, Tòa án phải ra quyết định
mở phiên họp xét đơn yêu cầu.
Thời hạn mở phiên họp xét đơn yêu cầu là 10 ngày,
kể từ ngày Tòa án ra quyết định mở phiên họp.
3. Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, Thẩm
phán được phân công xét đơn có quyền sau đây:
a) Yêu cầu bên tham gia hòa giải, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan có ý kiến về yêu cầu của người có đơn đề nghị Tòa án
công nhận kết quả hòa giải thành; làm rõ nội dung yêu cầu hoặc bổ sung tài liệu, nếu xét
thấy cần thiết;
b) Yêu cầu cơ quan, tổ chức cá nhân có thẩm quyền tiến hành hòa
giải cung cấp cho Tòa án tài liệu làm cơ sở cho việc xét đơn yêu cầu của đương sự,
nếu xét thấy cần thiết.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân được Tòa án yêu cầu có trách
nhiệm trả lời Tòa án trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu
cầu của Tòa án.
4. Những người tham gia phiên họp xét đơn yêu cầu,
thủ tục tiến hành phiên họp xét đơn yêu cầu được thực hiện theo quy định tại
Điều 367 và Điều 369 của Bộ luật này.
5. Thẩm phán ra quyết định công nhận kết quả hòa
giải thành ngoài
Tòa án khi có đủ các điều kiện quy định tại Điều 417 của Bộ luật này. Quyết
định của Tòa án phải có các nội dung quy định tại Điều 370 của Bộ luật này.
6. Thẩm phán ra quyết định không công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án
đối với trường hợp không có đủ các điều kiện quy định tại Điều 417 của Bộ luật
này.
Việc không công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án
không ảnh hưởng đến nội dung và giá trị pháp lý của kết quả hòa giải ngoài Tòa
án.
7. Quyết định công nhận hoặc không công nhận kết
quả hòa giải thành ngoài
Tòa án được gửi cho người tham gia thỏa thuận hòa giải, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan và Viện kiểm sát cùng cấp.
8. Quyết định công nhận hoặc không công nhận kết
quả hòa giải thành ngoài
Tòa án có hiệu lực thi hành ngay, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục
phúc thẩm.
9. Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án
được thi hành theo pháp luật về thi hành án dân sự.
Chương XXXIV. THỦ TỤC GIẢI
QUYẾT VIỆC DÂN SỰ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC BẮT GIỮ TÀU BAY, TÀU BIỂN
Điều 420. Quyền
yêu cầu Tòa án bắt giữ tàu bay, tàu biển
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa
án bắt giữ tàu bay tại cảng hàng không, sân bay để bảo đảm lợi ích của chủ nợ,
chủ sở hữu, người thứ ba ở mặt đất bị thiệt hại hoặc người khác có quyền, lợi
ích đối với tàu bay hoặc để thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật về
hàng không dân dụng Việt Nam.
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa
án bắt giữ tàu biển để bảo đảm giải quyết khiếu nại hàng hải, thi hành án dân
sự, thực hiện tương trợ tư pháp.
Điều 421. Thẩm
quyền của Tòa án bắt giữ tàu bay, tàu biển
1. Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi có cảng hàng không,
sân bay mà tàu bay bị yêu cầu bắt giữ hạ cánh có thẩm quyền quyết định bắt giữ
tàu bay.
2. Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi có cảng biển,
cảng thủy nội địa mà tàu biển bị yêu cầu bắt giữ đang hoạt động hàng hải có
thẩm quyền quyết định bắt giữ tàu biển. Trường hợp cảng có nhiều bến cảng thuộc
địa phận các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác nhau thì Tòa án nhân
dân cấp tỉnh nơi có bến cảng mà tàu biển bị yêu cầu bắt giữ đang hoạt động hàng
hải có thẩm quyền quyết định bắt giữ tàu biển đó.
Điều 422. Thủ
tục bắt giữ tàu bay, tàu biển
Thủ tục giải quyết việc dân sự liên quan đến việc
bắt giữ tàu bay, tàu biển được thực hiện theo quy định của pháp luật về bắt giữ
tàu bay, tàu biển.
Phần thứ bảy. THỦ TỤC CÔNG
NHẬN VÀ CHO THI HÀNH TẠI VIỆT NAM HOẶC KHÔNG CÔNG NHẬN BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH DÂN
SỰ CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI; CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI
NƯỚC NGOÀI
Chương XXXV. QUY ĐỊNH CHUNG
VỀ THỦ TỤC CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH TẠI VIỆT NAM HOẶC KHÔNG CÔNG NHẬN BẢN ÁN, QUYẾT
ĐỊNH DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI; CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH PHÁN QUYẾT CỦA
TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI
Điều 423. Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước
ngoài được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
1.
Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài sau đây được xem xét công nhận
và cho thi hành tại Việt Nam:
a)
Bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao
động, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của
Tòa án nước ngoài được quy định tại điều ước quốc tế mà nước đó và Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
b)
Bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao
động; quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của
Tòa án nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chưa cùng là
thành viên của điều ước quốc tế có quy định về công nhận và cho thi hành bản
án, quyết định của Tòa án nước ngoài trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại;
c)
Bản án, quyết định dân sự khác của Tòa án nước ngoài được pháp luật Việt Nam
quy định công nhận và cho thi hành.
2.
Quyết định về nhân thân, hôn nhân và gia đình của cơ quan khác có thẩm quyền
của nước ngoài cũng được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam như bản
án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 424. Phán quyết của Trọng tài nước ngoài được
công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
1.
Phán quyết của Trọng tài nước ngoài sau đây được xem xét công nhận và cho thi
hành tại Việt Nam:
a)
Phán quyết của Trọng tài nước ngoài mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam cùng là thành viên của điều ước quốc tế về công nhận và cho thi hành
phán quyết của Trọng tài nước ngoài;
b)
Phán quyết của Trọng tài nước ngoài không thuộc trường hợp quy định tại điểm a
khoản này trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại.
2.
Phán quyết của Trọng tài nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều này được xem xét
công nhận và cho thi hành tại Việt Nam là phán quyết cuối cùng của Hội đồng
trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp, chấm dứt tố tụng trọng tài
và có hiệu lực thi hành.
3.
Trọng tài nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài quy định tại khoản 1
Điều này được xác định theo quy định của Luật trọng tài thương mại của Việt
Nam.
Điều 425. Quyền yêu cầu công nhận và cho thi hành
hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài; công nhận
và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài
1.
Người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu Tòa án
Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của
Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài, nếu cá nhân phải thi
hành cư trú, làm việc tại Việt Nam hoặc cơ quan, tổ chức phải thi hành có trụ
sở chính tại Việt Nam hoặc tài sản liên quan đến việc thi hành bản án, quyết
định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài có tại
Việt Nam vào thời điểm yêu cầu.
2.
Người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu Tòa án
Việt Nam không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài.
3.
Đương sự, người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan hoặc người đại diện hợp
pháp của họ có quyền yêu cầu Tòa án Việt Nam không công nhận bản án, quyết định
dân sự của của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam.
Điều 426. Bảo đảm quyền kháng cáo, kháng nghị
Đương
sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân
cấp cao có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án công nhận và cho thi hành
hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết
định công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài để yêu cầu
Tòa án nhân dân cấp cao xét lại theo quy định của Bộ luật này.
Điều 427. Bảo đảm hiệu lực quyết định của Tòa án Việt
Nam công nhận và cho thi hành hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự
của Tòa án nước ngoài; công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước
ngoài
1.
Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài được Tòa án Việt Nam công nhận
và cho thi hành tại Việt Nam có hiệu lực pháp luật như bản án, quyết định dân
sự của Tòa án Việt Nam đã có hiệu lực pháp luật và được thi hành theo thủ tục
thi hành án dân sự. Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không được
Tòa án Việt Nam công nhận thì không có hiệu lực pháp luật tại Việt Nam, trừ
trường hợp đương nhiên được công nhận quy định tại Điều 431 của Bộ luật này.
2.
Phán quyết của Trọng tài nước ngoài được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi
hành tại Việt Nam có hiệu lực pháp luật như quyết định của Tòa án Việt Nam đã
có hiệu lực pháp luật và được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự.
3.
Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước
ngoài chỉ được thi hành tại Việt Nam sau khi quyết định của Tòa án Việt Nam
công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, phán quyết
của Trọng tài nước ngoài đó có hiệu lực pháp luật.
Điều 428. Gửi quyết định của Tòa án về công nhận và
cho thi hành hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước
ngoài; công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài
Tòa
án có trách nhiệm chuyển giao trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính hoặc thông
qua Bộ Tư pháp quyết định của Tòa án cho người được thi hành, người phải thi
hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài
nước ngoài hoặc người đại diện hợp pháp của họ, Viện kiểm sát cùng cấp và cơ
quan thi hành án dân sự theo quy định của Bộ luật này.
Điều
429. Bảo đảm quyền chuyển tiền, tài sản thi hành bản án, quyết định dân sự của
Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài
Nhà
nước Việt Nam bảo đảm việc chuyển tiền, tài sản thi hành bản án, quyết định dân
sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án
Việt Nam công nhận và cho thi hành từ Việt Nam ra nước ngoài. Việc chuyển tiền,
tài sản này được thực hiện theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Điều 430. Lệ phí, chi phí xét đơn yêu cầu công nhận
và cho thi hành hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước
ngoài; công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài
1.
Người yêu cầu Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành hoặc không công nhận
tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài; công nhận và cho
thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài phải nộp lệ phí theo quy định của
pháp luật Việt Nam.
2.
Người yêu cầu quy định tại khoản 1 Điều này phải chịu chi phí tống đạt ra nước
ngoài văn bản tố tụng của Tòa án Việt Nam liên quan đến yêu cầu của họ.
Điều 431. Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước
ngoài, quyết định của cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài đương nhiên
được công nhận tại Việt Nam
1. Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của cơ quan
khác có thẩm quyền của nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam và
không có đơn yêu cầu không công nhận tại Việt Nam được quy định tại điều ước
quốc tế mà Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
2. Bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của
Tòa án nước ngoài, quyết
định về hôn nhân và gia đình của cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài mà
nước đó và Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam chưa cùng là thành viên của điều ước quốc
tế không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam và không có đơn yêu cầu không công
nhận tại Việt Nam.
Chương XXXVI. THỦ TỤC XÉT ĐƠN
YÊU CẦU CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH TẠI VIỆT NAM BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ CỦA
TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI; THỦ TỤC XÉT ĐƠN YÊU CẦU KHÔNG CÔNG NHẬN BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH
DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI
Mục 1. THỦ TỤC XÉT ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN VÀ
CHO THI HÀNH TẠI VIỆT NAM BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI
Điều 432. Thời hiệu yêu cầu công nhận và cho thi hành
1. Trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày bản án, quyết
định dân sự của Tòa án nước ngoài có hiệu lực pháp luật, người được thi
hành, người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan hoặc người đại diện hợp pháp
của họ có quyền gửi đơn đến Bộ Tư pháp Việt Nam theo quy định của điều ước quốc
tế mà Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam và nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định cùng
là thành viên hoặc Tòa án Việt Nam có thẩm quyền quy định tại Bộ luật này để
yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự đó.
2. Trường hợp người làm đơn chứng minh được vì sự
kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà không thể gửi đơn đúng thời hạn
quy định tại khoản 1 Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở
ngại khách quan đó không tính vào thời hạn gửi đơn.
Điều 433. Đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành
1.
Đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành phải có các nội dung chính sau đây:
a)
Họ, tên, địa chỉ nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người được thi hành, người
đại diện hợp pháp của người đó; nếu người được thi hành án là cơ quan, tổ chức
thì phải ghi đầy đủ tên và địa chỉ trụ sở chính của cơ quan, tổ chức đó;
b)
Họ, tên, địa chỉ nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người phải thi hành; nếu
người phải thi hành là cơ quan, tổ chức thì ghi đầy đủ tên và địa chỉ trụ sở
chính của cơ quan, tổ chức đó; trường hợp người phải thi hành là cá nhân không
có nơi cư trú hoặc nơi làm việc tại Việt Nam, người phải thi hành là cơ quan,
tổ chức không có trụ sở chính tại Việt Nam thì trong đơn yêu cầu phải ghi rõ
địa chỉ nơi có tài sản và các loại tài sản liên quan đến việc thi hành bản án,
quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam;
c)
Yêu cầu của người được thi hành; trường hợp bản án, quyết định của Tòa án nước
ngoài đã được thi hành một phần thì người được thi hành phải ghi rõ phần đã
được thi hành và phần còn lại có yêu cầu công nhận và cho thi hành tiếp tại
Việt Nam.
2.
Đơn yêu cầu bằng tiếng nước ngoài phải được gửi kèm theo bản dịch ra tiếng
Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp.
Điều 434. Giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo đơn yêu cầu
1.
Gửi kèm theo đơn yêu cầu là giấy tờ, tài liệu được quy định tại điều ước quốc
tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước có Tòa án đã ra bản án, quyết
định cùng là thành viên. Trường hợp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước
có Tòa án đã ra bản án, quyết định chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế
có quy định về vấn đề này thì kèm theo đơn yêu cầu phải có giấy tờ, tài liệu
sau đây:
a)
Bản chính hoặc bản sao có chứng thực bản án, quyết định do Tòa án nước ngoài
cấp;
b)
Văn bản của Tòa án nước ngoài hoặc cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài
xác nhận bản án, quyết định đó có hiệu lực pháp luật, chưa hết thời hiệu thi hành
và cần được thi hành tại Việt Nam, trừ trường hợp trong bản án, quyết định đó
đã thể hiện rõ những nội dung này;
c)
Văn bản của Tòa án nước ngoài hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài xác
nhận kết quả tống đạt hợp lệ bản án, quyết định đó cho người phải thi hành;
d)
Văn bản của Tòa án nước ngoài hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài xác
nhận người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của người đó đã được
triệu tập hợp lệ trong trường hợp Tòa án nước ngoài ra bản án vắng mặt họ.
2.
Giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn yêu cầu bằng tiếng nước ngoài phải được gửi kèm
theo bản dịch ra tiếng Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp.
Điều 435. Chuyển hồ sơ cho Tòa án
Trường
hợp Bộ Tư pháp nhận được đơn yêu cầu và giấy tờ, tài liệu quy định tại khoản 1
Điều 434 của Bộ luật này thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận
được hồ sơ, Bộ Tư pháp phải chuyển cho Tòa án có thẩm quyền theo quy định tại
Điều 37 và Điều 39 của Bộ luật này.
Điều 436. Thụ lý hồ sơ
Trong
thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ do Bộ Tư pháp chuyển đến
hoặc kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu và giấy tờ, tài liệu kèm theo do người có
yêu cầu gửi đến, Tòa án căn cứ vào các điều 363, 364 và 365 của Bộ luật này để
xem xét, thụ lý hồ sơ và thông báo cho người có đơn yêu cầu, người phải thi
hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ tại Việt Nam, Viện kiểm sát cùng cấp
và Bộ Tư pháp.
Điều 437. Chuẩn bị xét đơn yêu cầu
1.
Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, Tòa án có quyền yêu cầu người được thi
hành giải thích những điểm chưa rõ trong đơn; yêu cầu Tòa án nước ngoài đã ra
bản án, quyết định giải thích những điểm chưa rõ trong hồ sơ.
2.
Văn bản yêu cầu giải thích của Tòa án được gửi cho người được thi hành hoặc
người đại diện hợp pháp của họ tại Việt Nam, Tòa án nước ngoài theo đường dịch
vụ bưu chính.
Trường
hợp Tòa án Việt Nam yêu cầu Tòa án nước ngoài giải thích thì văn bản yêu cầu
được dịch ra ngôn ngữ quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là thành viên. Trường hợp giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam và nước ngoài chưa có điều ước quốc tế thì hồ sơ phải kèm theo bản dịch ra
ngôn ngữ của nước được yêu cầu tương trợ tư pháp hoặc dịch ra một ngôn ngữ khác
mà nước được yêu cầu chấp nhận. Người yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt
Nam bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài phải chịu chi phí dịch và chi phí
dịch vụ bưu chính gửi văn bản yêu cầu giải thích của Tòa án Việt Nam cho Tòa án
nước ngoài.
3.
Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý. Trong thời
hạn này, tuỳ từng trường hợp mà Tòa án ra một trong các quyết định sau đây:
a)
Tạm đình chỉ việc xét đơn yêu cầu;
b)
Đình chỉ việc xét đơn yêu cầu;
c)
Mở phiên họp xét đơn yêu cầu.
Trường
hợp Tòa án yêu cầu giải thích theo quy định tại khoản 1 Điều này thì thời hạn
chuẩn bị xét đơn yêu cầu được kéo dài nhưng không quá 02 tháng. Nếu hết thời
hạn này mà Tòa án không nhận được văn bản giải thích của đương sự hoặc của Tòa
án nước ngoài thì Tòa án căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ để giải quyết yêu
cầu của đương sự.
Tòa
án phải mở phiên họp trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày ra quyết định mở phiên
họp xét đơn yêu cầu.
Tòa
án chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu trong thời hạn 15 ngày
trước ngày mở phiên họp; hết thời hạn này, Viện kiểm sát phải gửi trả lại hồ sơ
cho Tòa án để mở phiên họp xét đơn yêu cầu.
4.
Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ việc xét đơn yêu cầu khi có một trong các căn
cứ sau đây:
a)
Người phải thi hành là cá nhân chết hoặc người phải thi hành là cơ quan, tổ
chức đã sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể mà chưa có cơ quan, tổ chức,
cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó;
b)
Người phải thi hành là cá nhân bị mất năng lực hành vi dân sự mà chưa xác định
được người đại diện theo pháp luật;
c)
Chấm dứt đại diện hợp pháp của người phải thi hành mà chưa có người thay thế;
d)
Việc thi hành bản án, quyết định đã bị tạm đình chỉ tại nước có Tòa án đã ra
bản án, quyết định;
đ)
Bản án, quyết định đang được xem xét lại hoặc đang chờ xem xét lại theo thủ tục
tố tụng tại nước nơi Tòa án đã ra bản án, quyết định đó.
5.
Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu khi có một trong các căn cứ
sau đây:
a)
Người được thi hành rút đơn yêu cầu hoặc người phải thi hành đã tự nguyện thi
hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài;
b)
Người phải thi hành là cá nhân chết mà quyền, nghĩa vụ của người đó không được
thừa kế;
c)
Người phải thi hành là cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà quyền, nghĩa
vụ của cơ quan, tổ chức đó đã được giải quyết theo quy định của pháp luật Việt
Nam;
d)
Người phải thi hành là cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà không có cơ
quan, tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức
đó;
đ)
Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với người phải thi hành;
e)
Tòa án không xác định được địa chỉ của người phải thi hành và địa điểm nơi có
tài sản liên quan đến việc thi hành;
g)
Thẩm quyền giải quyết yêu cầu thuộc Tòa án khác và hồ sơ đã được chuyển cho Tòa
án đó giải quyết;
h)
Tòa án không xác định được địa điểm nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành
tại Việt Nam trong trường hợp cơ quan, tổ chức phải thi hành không có trụ sở
chính tại Việt Nam, cá nhân phải thi hành không cư trú, làm việc tại Việt Nam.
Điều 438. Phiên họp xét đơn yêu cầu
1.
Việc xét đơn yêu cầu được tiến hành tại phiên họp do Hội đồng xét đơn yêu cầu
gồm ba Thẩm phán thực hiện, trong đó một Thẩm phán làm chủ tọa theo sự phân
công của Chánh án Tòa án.
2.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp tham gia phiên họp; trường hợp Kiểm sát
viên vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.
3.
Phiên họp được tiến hành với sự có mặt của người được thi hành, người phải thi
hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ; nếu một trong những người này vắng
mặt lần thứ nhất thì phải hoãn phiên họp.
Việc
xét đơn yêu cầu vẫn được tiến hành nếu người được thi hành hoặc người đại diện
hợp pháp của họ, người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ có đơn
yêu cầu Tòa án xét đơn vắng mặt hoặc người phải thi hành hoặc người đại diện
hợp pháp của họ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt.
Hội
đồng ra quyết định đình chỉ việc xét đơn nếu người được thi hành hoặc người đại
diện hợp pháp của họ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt hoặc
khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 5 Điều 437 của Bộ luật này.
4.
Khi xem xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành, Hội đồng không được xét xử
lại vụ án đã được Tòa án nước ngoài ra bản án, quyết định. Tòa án chỉ được kiểm
tra, đối chiếu bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, giấy tờ, tài
liệu kèm theo đơn yêu cầu với các quy định tại Chương XXXV và Chương XXXVI của
Bộ luật này, các quy định khác có liên quan của pháp luật Việt Nam và điều ước
quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên để làm cơ sở cho
việc ra quyết định công nhận và cho thi hành hoặc không công nhận bản án, quyết
định đó.
5.
Sau khi xem xét đơn yêu cầu, các giấy tờ, tài liệu kèm theo, nghe ý kiến của
người được triệu tập, của Kiểm sát viên, Hội đồng thảo luận và quyết định theo
đa số.
Hội
đồng có quyền ra quyết định công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc quyết
định không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài.
6.
Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, Tòa án cấp sơ thẩm có quyền quyết định
áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Chương VIII
của Bộ luật này.
Điều 439. Những bản án, quyết định dân sự của Tòa án
nước ngoài không được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
1.
Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không đáp ứng được một trong
các điều kiện để được công nhận quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
2.
Bản án, quyết định dân sự chưa có hiệu lực pháp luật theo quy định của pháp
luật của nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định đó.
3.
Người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của người đó đã vắng mặt tại
phiên tòa của Tòa án nước ngoài do không được triệu tập hợp lệ hoặc văn bản của
Tòa án nước ngoài không được tống đạt cho họ trong một thời hạn hợp lý theo quy
định của pháp luật của nước có Tòa án nước ngoài đó để họ thực hiện quyền tự
bảo vệ.
4.
Tòa án nước đã ra bản án, quyết định không có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân
sự đó theo quy định tại Điều 440 của Bộ luật này.
5.
Vụ việc dân sự này đã có bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của
Tòa án Việt Nam hoặc trước khi cơ quan xét xử của nước ngoài thụ lý vụ việc,
Tòa án Việt Nam đã thụ lý và đang giải quyết vụ việc hoặc đã có bản án, quyết
định dân sự của Tòa án nước thứ ba đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi
hành.
6.
Đã hết thời hiệu thi hành án theo pháp luật của nước có Tòa án đã ra bản án,
quyết định dân sự đó hoặc theo pháp luật thi hành án dân sự của Việt Nam.
7.
Việc thi hành bản án, quyết định đã bị hủy bỏ hoặc đình chỉ thi hành tại nước
có Tòa án đã ra bản án, quyết định đó.
8.
Việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài
tại Việt Nam trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam.
1. https://docluat.vn/archive/3821/
2. https://docluat.vn/archive/1542/
3. https://docluat.vn/archive/3570/
Điều 440. Tòa án nước ngoài có thẩm quyền giải quyết
tranh chấp, yêu cầu
Tòa
án nước ngoài đã ra bản án, quyết định mà bản án, quyết định đó đang được xem
xét để công nhận và cho thi hành tại Việt Nam có thẩm quyền giải quyết vụ việc
dân sự đó trong những trường hợp sau đây:
1.
Vụ việc dân sự không thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam quy định
tại Điều 470 của Bộ luật này;
2.
Vụ việc dân sự quy định tại Điều 469 của Bộ luật này nhưng có một trong các
điều kiện sau đây:
a)
Bị đơn tham gia tranh tụng mà không có ý kiến phản đối thẩm quyền của Tòa án
nước ngoài đó;
b)
Vụ việc dân sự này chưa có bản án, quyết định của Tòa án nước thứ ba đã được
Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành;
c)
Vụ việc dân sự này đã được Tòa án nước ngoài thụ lý trước khi Tòa án Việt Nam
thụ lý.
Điều 441. Gửi quyết định của Tòa án
1.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định quy định tại khoản 5 Điều 438
của Bộ luật này, Tòa án phải gửi quyết định đó cho các đương sự hoặc người đại
diện hợp pháp của họ, Bộ Tư pháp và Viện kiểm sát cùng cấp.
2.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ, quyết
định đình chỉ việc giải quyết đơn quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 437 của
Bộ luật này, Tòa án phải gửi quyết định đó cho các đương sự hoặc người đại diện
hợp pháp của họ, Bộ Tư pháp và Viện kiểm sát cùng cấp.
3.
Ngay sau khi ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm
thời quy định tại khoản 6 Điều 438 của Bộ luật này, Tòa án phải gửi quyết định
đó cho các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ, cơ quan thi hành án
dân sự có thẩm quyền, Bộ Tư pháp và Viện kiểm sát cùng cấp.
4.
Việc gửi quyết định của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài được thực hiện theo
các phương thức quy định tại Điều 474 của Bộ luật này.
Điều 442. Kháng cáo, kháng nghị
1.
Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ, quyết
định đình chỉ xét đơn yêu cầu và 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định công
nhận và cho thi hành hoặc không công nhận bản án, quyết định của Tòa án nước
ngoài, đương sự, người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo quyết định
đó; trường hợp đương sự, người đại diện hợp pháp của họ không có mặt tại phiên
họp xét đơn yêu cầu thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được quyết
định đó. Đơn kháng cáo phải nêu rõ lý do và yêu cầu kháng cáo.
Trong
trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho đương sự,
người đại diện hợp pháp của họ không thể kháng cáo trong thời hạn nêu trên thì
thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào
thời hạn kháng cáo.
2.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân cấp cao có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án quy định tại khoản 4 và
khoản 5 Điều 437 và khoản 5 Điều 438 của Bộ luật này.
Thời
hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh là 07 ngày, của Viện kiểm
sát nhân dân cấp cao là 10 ngày, kể từ ngày Viện kiểm sát nhận được quyết định.
Điều 443. Xét kháng cáo, kháng nghị
1.
Tòa án nhân dân cấp cao xét quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh trong phạm
vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn 01 tháng,
kể từ ngày nhận được hồ sơ; trường hợp cần phải yêu cầu giải thích theo quy
định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 437 của Bộ luật này thì thời hạn này được kéo
dài, nhưng không quá 02 tháng.
2.
Thành phần Hội đồng xét quyết định bị kháng cáo, kháng nghị gồm ba Thẩm phán,
trong đó một Thẩm phán làm chủ tọa theo sự phân công của Chánh Tòa án nhân dân
cấp cao.
Phiên
họp xét lại quyết định bị kháng cáo, kháng nghị được tiến hành như phiên họp
xét đơn yêu cầu quy định tại Điều 438 của Bộ luật này.
3.
Hội đồng xét quyết định bị kháng cáo, kháng nghị có các quyền sau đây:
a)
Giữ nguyên quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm;
b)
Sửa một phần hoặc toàn bộ quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm;
c)
Tạm đình chỉ giải quyết kháng cáo, kháng nghị;
d)
Đình chỉ giải quyết kháng cáo, kháng nghị;
đ)
Hủy quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm để
giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm;
e)
Hủy quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và đình chỉ việc xét đơn yêu cầu khi có
một trong các căn cứ quy định tại khoản 5 Điều 437 của Bộ luật này.
4.
Quyết định của Tòa án nhân dân cấp cao có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra
quyết định và có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo
quy định của Bộ luật này.
Mục 2. THỦ TỤC XÉT ĐƠN YÊU CẦU KHÔNG CÔNG
NHẬN BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI
Điều 444. Thời hiệu yêu cầu không công nhận bản án,
quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam
1.
Trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước
ngoài có hiệu lực pháp luật, người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp
của họ có quyền yêu cầu Tòa án Việt Nam không công nhận bản án, quyết định dân
sự của Tòa án nước ngoài.
2.
Trường hợp người yêu cầu chứng minh được vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại
khách quan mà không thể yêu cầu đúng thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này thì
thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào
thời hạn gửi đơn.
Điều 445. Đơn yêu cầu không công nhận bản án, quyết
định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam
1.
Người yêu cầu quy định tại khoản 1 Điều 444 của Bộ luật này phải làm đơn yêu
cầu. Đơn yêu cầu phải có các nội dung chính sau đây:
a)
Họ, tên, địa chỉ nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người phải thi hành; nếu
người phải thi hành là cơ quan, tổ chức thì ghi đầy đủ tên và địa chỉ trụ sở
chính của cơ quan, tổ chức đó; trường hợp người phải thi hành là cá nhân không
có nơi cư trú hoặc nơi làm việc tại Việt Nam, người phải thi hành là cơ quan,
tổ chức không có trụ sở chính tại Việt Nam thì trong đơn yêu cầu phải ghi rõ
địa chỉ nơi có tài sản và các loại tài sản liên quan đến việc thi hành bản án,
quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam;
b)
Họ, tên, địa chỉ nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người được thi hành, người
đại diện hợp pháp của người đó; nếu người được thi hành án là cơ quan, tổ chức
thì phải ghi đầy đủ tên và địa chỉ trụ sở chính của cơ quan, tổ chức đó;
c)
Yêu cầu của người phải thi hành; trường hợp bản án, quyết định của Tòa án nước
ngoài đã được thi hành một phần thì phải ghi rõ phần đã được thi hành và phần
còn lại có yêu cầu không công nhận tại Việt Nam.
2.
Đơn yêu cầu bằng tiếng nước ngoài phải được gửi kèm theo bản dịch ra tiếng
Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp.
Điều 446. Giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo đơn yêu cầu;
thủ tục xét đơn yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án
nước ngoài tại Việt Nam
1.
Gửi kèm theo đơn yêu cầu là giấy tờ, tài liệu quy định tại điều ước quốc tế mà
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Trường hợp Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam và nước có Tòa án đã ra bản án, quyết định chưa cùng là
thành viên của điều ước quốc tế có quy định về vấn đề này thì kèm theo đơn yêu
cầu phải có bản chính hoặc bản sao có chứng thực bản án, quyết định do Tòa án
nước ngoài cấp và giấy tờ, tài liệu chứng minh cho yêu cầu không công nhận.
2.
Giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn yêu cầu bằng tiếng nước ngoài phải được gửi kèm
theo bản dịch ra tiếng Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp.
3.
Thủ tục xét đơn yêu cầu, việc gửi quyết định của Tòa án, việc kháng cáo, kháng
nghị và xét kháng cáo, kháng nghị được thực hiện theo quy định tại các điều
tương ứng tại Mục 1 Chương này.
Mục 3. THỦ TỤC YÊU CẦU KHÔNG CÔNG NHẬN BẢN
ÁN, QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN NƯỚC NGOÀI KHÔNG CÓ YÊU CẦU THI HÀNH TẠI VIỆT
NAM
Điều 447. Thời hiệu yêu cầu không công nhận bản án,
quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam
1.
Trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định dân sự đã có
hiệu lực pháp luật của Tòa án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt
Nam, đương sự, người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan hoặc người đại diện
hợp pháp của họ có quyền gửi đơn đến Bộ Tư pháp Việt Nam theo quy định của điều
ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc Tòa án có
thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Bộ luật này trong trường hợp điều ước
quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên không quy định hoặc
không có điều ước quốc tế liên quan để yêu cầu Tòa án không công nhận bản án,
quyết định dân sự đó.
2.
Trường hợp người làm đơn chứng minh được vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại
khách quan mà không thể gửi đơn đúng thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này thì
thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào
thời hạn gửi đơn.
Điều 448. Đơn yêu cầu không công nhận bản án, quyết
định dân sự của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam
1.
Đơn yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài
không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam phải có các nội dung chính sau đây:
a)
Họ, tên, địa chỉ nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người làm đơn; nếu là cơ
quan, tổ chức thì ghi đầy đủ tên và địa chỉ trụ sở chính của cơ quan, tổ chức
đó;
b)
Yêu cầu của người làm đơn.
2.
Kèm theo đơn yêu cầu phải có bản chính hoặc bản sao có chứng thực bản án, quyết
định dân sự của Tòa án nước ngoài và giấy tờ, tài liệu cần thiết để chứng minh
yêu cầu không công nhận của mình là có căn cứ và hợp pháp.
3.
Đơn yêu cầu và giấy tờ, tài liệu kèm theo bằng tiếng nước ngoài phải được gửi
kèm theo bản dịch ra tiếng Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp.
Điều 449. Thủ tục thụ lý, giải quyết đơn yêu cầu
không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không có yêu
cầu thi hành tại Việt Nam
1.
Việc thụ lý đơn, chuẩn bị xét đơn yêu cầu và phiên họp xét đơn yêu cầu không
công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi
hành tại Việt Nam được thực hiện theo quy định tại các điều 436, 437 và 438 của
Bộ luật này.
2.
Hội đồng xét đơn yêu cầu có quyền ra một trong các quyết định sau đây:
a)
Không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài;
b)
Bác đơn yêu cầu không công nhận.
3.
Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại
Việt Nam không được công nhận trong các trường hợp quy định tại Điều 439 của Bộ
luật này.
Điều 450. Gửi quyết định của Tòa án và việc kháng
cáo, kháng nghị
Việc gửi quyết định của Tòa án; việc kháng cáo,
kháng nghị và xét kháng cáo, kháng nghị được thực hiện theo quy định tại các
điều 441, 442 và 443 của Bộ luật này.
Chương XXXVII. THỦ TỤC XÉT ĐƠN
YÊU CẦU CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH TẠI VIỆT NAM PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI NƯỚC
NGOÀI
Điều 451. Thời
hạn gửi đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành
1. Trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày phán quyết của
Trọng tài nước ngoài có hiệu lực pháp luật, người được thi hành, người có
quyền, lợi ích hợp pháp liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền
gửi đơn đến Bộ Tư pháp Việt Nam theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là thành viên hoặc Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Bộ
luật này trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên không quy định hoặc không có điều ước quốc tế liên quan để yêu cầu Tòa án công nhận và
cho thi hành tại Việt Nam phán quyết đó.
2. Trường hợp người làm đơn chứng minh được vì sự kiện bất khả
kháng hoặc trở ngại khách quan mà không thể gửi đơn đúng thời hạn quy định tại
khoản 1 Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách
quan đó không tính vào thời hạn gửi đơn.
Điều 452. Đơn
yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước
ngoài
1. Đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt
Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài phải có các nội dung chính sau đây:
a) Họ, tên, địa chỉ nơi cư trú hoặc nơi làm việc
của người được thi hành, người đại diện hợp pháp tại Việt Nam của người đó; nếu
người được thi hành án là cơ quan, tổ chức thì phải ghi đầy đủ tên và địa chỉ
trụ sở chính của cơ quan, tổ chức đó;
b) Họ, tên, địa chỉ nơi cư trú hoặc nơi làm việc
của người phải thi hành; nếu người phải thi hành là cơ quan, tổ chức thì ghi
đầy đủ tên và địa chỉ trụ sở chính của cơ quan, tổ chức đó; trường hợp người
phải thi hành là cá nhân không có nơi cư trú hoặc nơi làm việc tại Việt Nam,
người phải thi hành là cơ quan, tổ chức không có trụ sở chính tại Việt Nam thì
trong đơn yêu cầu phải ghi rõ địa chỉ nơi có tài sản và các loại tài sản liên
quan đến việc thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam;
c) Yêu cầu của người được thi hành.
2. Đơn yêu cầu bằng tiếng nước ngoài phải được gửi
kèm theo bản dịch ra tiếng Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp.
Điều 453. Giấy
tờ, tài liệu gửi kèm theo đơn yêu cầu
1. Gửi kèm theo đơn yêu cầu là giấy tờ, tài liệu
quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên; trường
hợp không có điều ước quốc tế hoặc điều ước quốc tế không quy định thì kèm theo
đơn yêu cầu phải có giấy tờ, tài liệu sau đây:
a) Bản chính hoặc bản sao có chứng thực phán quyết
của Trọng tài nước ngoài;
b) Bản chính hoặc bản sao có chứng thực thỏa thuận
trọng tài giữa các bên.
2. Giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn yêu cầu bằng
tiếng nước ngoài thì phải được gửi kèm theo bản dịch
ra
tiếng Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp.
Điều 454. Chuyển hồ sơ cho Tòa án
1.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu và giấy tờ,
tài liệu quy định tại Điều 453 của Bộ luật này thì Bộ Tư pháp phải chuyển cho
Tòa án có thẩm quyền.
2.
Trường hợp Bộ Tư pháp đã chuyển hồ sơ cho Tòa án mà sau đó lại nhận được thông
báo của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cho biết đang xem xét hoặc đã hủy
bỏ, đình chỉ thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài thì Bộ Tư pháp phải
thông báo ngay bằng văn bản cho Tòa án biết.
Điều 455. Thụ lý hồ sơ
Trong
thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ do Bộ Tư pháp chuyển đến
hoặc nhận được đơn và giấy tờ, tài liệu kèm theo do người có đơn yêu cầu gửi
đến, Tòa án có thẩm quyền căn cứ vào các điều 363, 364 và 365 của Bộ luật này
để xem xét, thụ lý và thông báo bằng văn bản cho người được thi hành, người
phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ tại Việt Nam, Viện kiểm sát
cùng cấp và Bộ Tư pháp.
Điều 456. Chuyển hồ sơ cho Tòa án khác, giải quyết
tranh chấp về thẩm quyền
Trường
hợp sau khi thụ lý mà Tòa án xét thấy việc giải quyết yêu cầu công nhận và cho
thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài thuộc thẩm quyền của
Tòa án khác của Việt Nam thì Tòa án đã thụ lý ra quyết định chuyển hồ sơ cho
Tòa án có thẩm quyền và xóa tên yêu cầu đó trong sổ thụ lý. Quyết định này phải
được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự.
Đương
sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị đối với quyết định này
trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định. Trình tự, thủ
tục giải quyết khiếu nại, kiến nghị, giải quyết tranh chấp về thẩm quyền được
thực hiện theo quy định tại Điều 41 của Bộ luật này.
Điều 457. Chuẩn bị xét đơn yêu cầu
1.
Trong thời hạn 02 tháng, kể từ ngày thụ lý, tuỳ từng trường hợp mà Tòa án ra
một trong các quyết định sau đây:
a)
Tạm đình chỉ việc xét đơn yêu cầu;
b)
Đình chỉ việc xét đơn yêu cầu;
c)
Mở phiên họp xét đơn yêu cầu.
Trong
thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, Tòa án có quyền yêu cầu người được thi hành
giải thích những điểm chưa rõ trong đơn. Trong trường hợp này, thời hạn chuẩn
bị xét đơn yêu cầu được kéo dài nhưng không quá 02 tháng.
Tòa
án phải mở phiên họp trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày ra quyết định mở phiên
họp xét đơn yêu cầu. Tòa án chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu
trong thời hạn 15 ngày trước ngày mở phiên họp; hết thời hạn này, Viện kiểm sát
phải gửi trả lại hồ sơ cho Tòa án để mở phiên họp xét đơn yêu cầu.
2.
Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ việc xét đơn yêu cầu khi có một trong các căn
cứ sau đây:
a)
Phán quyết của Trọng tài nước ngoài đang được cơ quan có thẩm quyền của nước
nơi Trọng tài ra phán quyết xem xét lại;
b)
Người phải thi hành là cá nhân chết hoặc người phải thi hành là cơ quan, tổ
chức đã sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể mà chưa có cơ quan, tổ chức,
cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó;
c)
Người phải thi hành là cá nhân bị mất năng lực hành vi dân sự mà chưa xác định
được người đại diện theo pháp luật.
Trong
thời gian tạm đình chỉ, Thẩm phán được phân công giải quyết vẫn phải có trách
nhiệm về việc giải quyết đơn yêu cầu.
Sau
khi có quyết định tạm đình chỉ giải quyết đơn yêu cầu theo quy định tại khoản
này, Thẩm phán có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm
khắc phục những lý do dẫn tới việc tạm đình chỉ trong thời gian ngắn nhất để
kịp thời tiếp tục giải quyết đơn yêu cầu. Khi lý do tạm đình chỉ không còn thì
Thẩm phán phải ra quyết định tiếp tục giải quyết đơn yêu cầu.
3.
Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu khi có một trong các căn cứ
sau đây:
a)
Người được thi hành rút đơn yêu cầu hoặc người phải thi hành đã tự nguyện thi
hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài;
b)
Người phải thi hành là cá nhân chết mà quyền, nghĩa vụ của người đó không được
thừa kế;
c)
Người phải thi hành là cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà quyền, nghĩa
vụ của cơ quan, tổ chức đó đã được giải quyết theo quy định của pháp luật Việt
Nam;
d)
Người phải thi hành là cơ quan, tổ chức đã bị giải thể, phá sản mà không có cơ
quan, tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức
đó;
đ)
Tòa án không xác định được địa điểm nơi có tài sản tại Việt Nam của người phải
thi hành theo yêu cầu của người được thi hành phán quyết trọng tài.
Điều 458. Phiên họp xét đơn yêu cầu
1.
Việc xét đơn yêu cầu được tiến hành tại phiên họp do Hội đồng xét đơn yêu cầu
gồm ba Thẩm phán thực hiện, trong đó một Thẩm phán làm chủ tọa theo sự phân
công của Chánh án Tòa án.
2.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia phiên họp; trường hợp Kiểm
sát viên vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp.
3.
Phiên họp được tiến hành với sự có mặt của người được thi hành, người phải thi
hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ, nếu một trong những người này vắng
mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng thì phải hoãn phiên họp.
Việc
xét đơn yêu cầu vẫn được tiến hành nếu người được thi hành hoặc người đại diện
hợp pháp của họ, người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ yêu
cầu Tòa án xét đơn vắng mặt họ hoặc người phải thi hành hoặc người đại diện hợp
pháp của họ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt.
Hội
đồng xét đơn ra quyết định đình chỉ việc giải quyết đơn nếu người được thi hành
hoặc người đại diện hợp pháp của họ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn
vắng mặt hoặc khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 457 của Bộ
luật này.
4.
Khi xem xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành, Hội đồng không được xét xử
lại tranh chấp đã được Trọng tài nước ngoài ra phán quyết. Tòa án chỉ được kiểm
tra, đối chiếu phán quyết của Trọng tài nước ngoài, giấy tờ, tài liệu kèm theo
đơn yêu cầu với các quy định tại Chương XXXV và Chương XXXVII của Bộ luật này,
các quy định khác có liên quan của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên để làm cơ sở cho việc ra quyết
định công nhận hoặc không công nhận phán quyết đó.
5.
Sau khi xem xét đơn yêu cầu, giấy tờ, tài liệu kèm theo, nghe ý kiến của người
được triệu tập, của Kiểm sát viên, Hội đồng thảo luận và quyết định theo đa số.
Hội
đồng có quyền ra quyết định công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết
của Trọng tài nước ngoài hoặc quyết định không công nhận phán quyết của Trọng
tài nước ngoài.
Điều 459. Những trường hợp không công nhận
1.
Tòa án không công nhận phán quyết của Trọng tài nước ngoài khi xét thấy chứng
cứ do bên phải thi hành cung cấp cho Tòa án để phản đối yêu cầu công nhận là có
căn cứ, hợp pháp và phán quyết trọng tài thuộc một trong các trường hợp sau
đây:
a)
Các bên ký kết thỏa thuận trọng tài không có năng lực để ký kết thỏa thuận đó
theo pháp luật được áp dụng cho mỗi bên;
b)
Thỏa thuận trọng tài không có giá trị pháp lý theo pháp luật của nước mà các
bên đã chọn để áp dụng hoặc theo pháp luật của nước nơi phán quyết đã được
tuyên, nếu các bên không chọn pháp luật áp dụng cho thỏa thuận đó;
c)
Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thi hành không được thông báo kịp thời và hợp
thức về việc chỉ định Trọng tài viên, về thủ tục giải quyết vụ tranh chấp tại
Trọng tài nước ngoài hoặc vì nguyên nhân chính đáng khác mà không thể thực hiện
được quyền tố tụng của mình;
d)
Phán quyết của Trọng tài nước ngoài được tuyên về một vụ tranh chấp không được
các bên yêu cầu giải quyết hoặc vượt quá yêu cầu của các bên ký kết thỏa thuận
trọng tài. Trường hợp có thể tách được phần quyết định về vấn đề đã được yêu
cầu và phần quyết định về vấn đề không được yêu cầu giải quyết tại Trọng tài
nước ngoài thì phần quyết định về vấn đề được yêu cầu giải quyết có thể được
công nhận và cho thi hành tại Việt Nam;
đ)
Thành phần của Trọng tài nước ngoài, thủ tục giải quyết tranh chấp của Trọng
tài nước ngoài không phù hợp với thỏa thuận trọng tài hoặc với pháp luật của
nước nơi phán quyết của Trọng tài nước ngoài đã được tuyên, nếu thỏa thuận
trọng tài không quy định về các vấn đề đó;
e)
Phán quyết của Trọng tài nước ngoài chưa có hiệu lực bắt buộc đối với các bên;
g)
Phán quyết của Trọng tài nước ngoài bị cơ quan có thẩm quyền của nước nơi phán
quyết đã được tuyên hoặc của nước có pháp luật đã được áp dụng hủy bỏ hoặc đình
chỉ thi hành.
2.
Phán quyết của Trọng tài nước ngoài cũng không được công nhận, nếu Tòa án Việt
Nam xét thấy:
a)
Theo pháp luật Việt Nam, vụ tranh chấp không được giải quyết theo thể thức
trọng tài;
b)
Việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài
trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam.
Điều 460. Gửi quyết định của Tòa án
1.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ, quyết
định đình chỉ việc giải quyết đơn quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 457 của
Bộ luật này, Tòa án phải gửi quyết định đó cho các đương sự hoặc người đại diện
hợp pháp của họ, Bộ Tư pháp và Viện kiểm sát cùng cấp.
2.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định công nhận và cho thi hành hoặc
không công nhận tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài quy định tại
khoản 5 Điều 458 của Bộ luật này, Tòa án phải gửi quyết định đó cho các đương
sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ, Bộ Tư pháp và Viện kiểm sát cùng cấp.
Nếu đương sự ở nước ngoài không có người đại diện hợp pháp tại Việt Nam và Tòa
án đã ra quyết định vắng mặt họ theo quy định tại khoản 3 Điều 458 của Bộ luật
này thì Tòa án gửi quyết định cho họ theo đường dịch vụ bưu chính hoặc thông
qua Bộ Tư pháp theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là thành viên.
3.
Việc gửi quyết định của Tòa án được thực hiện theo các phương thức quy định tại
Điều 474 của Bộ luật này.
Điều 461. Kháng cáo, kháng nghị
1.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định quy định tại khoản 2 và
khoản 3 Điều 457 hoặc khoản 5 Điều 458 của Bộ luật này, đương sự, người đại
diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo quyết định đó; trường hợp đương sự
không có mặt tại phiên họp xét đơn yêu cầu thì thời hạn kháng cáo được tính từ
ngày họ nhận được quyết định. Đơn kháng cáo phải nêu rõ lý do và yêu cầu kháng
cáo.
Trường
hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho đương sự, người
đại diện hợp pháp của họ không thể kháng cáo trong thời hạn nêu trên thì thời
gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời
hạn kháng cáo.
2.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân cấp cao có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án quy định tại khoản 2 và
khoản 3 Điều 457 và khoản 5 Điều 458 của Bộ luật này.
Thời
hạn kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh là 07 ngày, của Viện kiểm
sát nhân dân cấp cao là 10 ngày, kể từ ngày Viện kiểm sát nhận được quyết định.
Điều 462. Xét kháng cáo, kháng nghị
1.
Tòa án nhân dân cấp cao xét lại quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh bị
kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được hồ sơ;
trường hợp cần phải yêu cầu giải thích theo quy định tại khoản 1 Điều 457 của
Bộ luật này thì thời hạn này được kéo dài, nhưng không quá 02 tháng.
2.
Thành phần Hội đồng xét quyết định bị kháng cáo, kháng nghị gồm ba Thẩm phán,
trong đó có một Thẩm phán làm chủ tọa theo sự phân công của Chánh án Tòa án
nhân dân cấp cao. Phiên họp xét lại quyết định bị kháng cáo, kháng nghị được
tiến hành như phiên họp xét đơn yêu cầu quy định tại Điều 458 của Bộ luật này.
3.
Hội đồng xét quyết định bị kháng cáo, kháng nghị có các quyền sau đây:
a)
Giữ nguyên quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm;
b)
Sửa một phần hoặc toàn bộ quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm;
c)
Tạm đình chỉ giải quyết kháng cáo, kháng nghị;
d)
Đình chỉ giải quyết kháng cáo, kháng nghị;
đ)
Hủy quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm để
giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm;
e)
Hủy quyết định sơ thẩm và đình chỉ giải quyết đơn yêu cầu khi có một trong các
căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 457 của Bộ luật này.
4.
Hội đồng xét quyết định bị kháng cáo, kháng nghị đình chỉ giải quyết kháng cáo,
kháng nghị trong các trường hợp sau đây:
a)
Đương sự kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng
nghị;
b)
Đương sự kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt và
không có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Trường
hợp đương sự kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ
kháng nghị trước khi Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định mở phiên họp xét kháng
cáo, kháng nghị thì Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên họp ra quyết
định đình chỉ giải quyết kháng cáo, kháng nghị. Trường hợp đương sự kháng cáo
rút toàn bộ kháng cáo, Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị sau khi Tòa án cấp
phúc thẩm ra quyết định mở phiên họp xét kháng cáo, kháng nghị thì Hội đồng xét
kháng cáo, kháng nghị ra quyết định đình chỉ giải quyết xét kháng cáo, kháng
nghị.
Trong
các trường hợp này, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có hiệu lực pháp luật từ
ngày Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét kháng cáo, kháng nghị.
5.
Hội đồng xét quyết định bị kháng cáo, kháng nghị hủy quyết định của Tòa án cấp
sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục
sơ thẩm trong các trường hợp sau đây:
a)
Việc chứng minh của đương sự phản đối việc công nhận phán quyết của Trọng tài nước
ngoài hoặc căn cứ để Tòa án cấp sơ thẩm ra quyết định công nhận hoặc không công
nhận phán quyết của Trọng tài nước ngoài không đúng quy định tại Chương XXXV và
Chương XXXVII của Bộ luật này, các quy định khác có liên quan của pháp luật
Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên;
b)
Thành phần của Hội đồng xét đơn của Tòa án cấp sơ thẩm không đúng quy định tại
Chương XXXVII của Bộ luật này hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố
tụng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
6.
Quyết định của Tòa án nhân dân cấp cao có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra
quyết định và có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo
quy định của Bộ luật này.
Điều 463. Tạm đình chỉ thi hành, hủy quyết định công
nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài
1. Ngay sau khi nhận được thông báo bằng văn bản
của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về việc đang xem xét yêu cầu hủy bỏ
hoặc đình chỉ thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài từ đương sự hoặc Bộ
Tư pháp, Tòa án đã ra quyết định công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán
quyết đó phải yêu cầu Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tạm
đình chỉ thi hành phán quyết.
Ngay sau khi nhận được yêu cầu của Tòa án, Thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tạm đình chỉ thi hành phán
quyết và gửi quyết định đó cho Tòa án đã ra quyết định công nhận và cho thi
hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài, đồng thời gửi cho đương sự, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thể áp
dụng biện pháp bảo đảm cần thiết cho việc tiếp tục thi hành phán quyết của
Trọng tài nước ngoài theo
quy định của pháp luật về thi hành án dân sự nếu có yêu cầu
của cơ quan, tổ chức, cá nhân được thi hành.
2. Ngay sau khi nhận được thông báo bằng văn bản
của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hủy bỏ hoặc đình chỉ thi hành phán
quyết của Trọng tài nước ngoài, Tòa án Việt Nam đã ra quyết định công nhận và cho thi
hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài ra quyết định hủy bỏ
quyết định đó và gửi quyết định này cho đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cơ quan
thi hành án dân sự.
Ngay sau khi nhận được quyết định của Tòa án, Thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định đình chỉ việc thi hành phán
quyết của Trọng tài nước ngoài.
Phần thứ tám. THỦ TỤC GIẢI
QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
Chương XXXVIII. QUY ĐỊNH CHUNG
VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VỤ VIỆC DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
Điều 464.
Nguyên tắc áp dụng
1. Phần này quy định về thẩm quyền, thủ tục giải
quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài; trường hợp Phần này không có quy định thì áp dụng
các quy định khác có liên quan của Bộ luật này để giải quyết.
2. Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là vụ việc
dân sự thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, cơ quan, tổ
chức nước ngoài;
b) Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ
chức Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó
xảy ra tại nước ngoài;
c) Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ
chức Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.
3. Các hoạt động tương trợ tư pháp trong tố tụng
dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật về tương trợ tư pháp.
Điều 465. Quyền,
nghĩa vụ tố tụng của người nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, chi nhánh,
văn phòng đại diện tại Việt Nam của cơ quan, tổ chức nước ngoài và tổ chức quốc
tế, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam, Nhà nước nước ngoài
1. Người nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài,
tổ chức quốc tế, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam có quyền
khởi kiện đến Tòa án Việt Nam để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình khi bị xâm phạm hoặc có tranh chấp.
Chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam của cơ
quan, tổ chức nước ngoài theo ủy quyền có quyền khởi kiện đến Tòa án Việt Nam
để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức nước ngoài ủy
quyền bị xâm phạm hoặc có tranh chấp.
2. Khi tham gia tố tụng dân sự, người nước ngoài,
cơ quan, tổ chức nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam của cơ
quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế
tại Việt Nam, Nhà nước nước ngoài có quyền, nghĩa vụ tố tụng như công dân, cơ
quan, tổ chức Việt Nam.
3. Nhà nước Việt Nam có thể áp dụng nguyên tắc có
đi có lại để hạn chế quyền tố tụng dân sự tương ứng của người nước ngoài, cơ
quan, tổ chức nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam của cơ
quan, tổ chức nước ngoài mà Tòa án của nước đó đã hạn chế quyền tố tụng dân sự
đối với công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam, chi nhánh, văn phòng đại diện tại
nước ngoài của cơ quan, tổ chức Việt Nam.
Điều 466. Năng
lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự của người nước ngoài
1. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự và năng lực
hành vi tố tụng dân sự của người nước ngoài được xác định như sau:
a) Theo pháp luật của nước mà người nước ngoài có
quốc tịch; trường
hợp người nước ngoài là người không quốc tịch thì theo pháp luật của nước nơi
người đó cư trú; nếu
người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam thì theo pháp luật Việt Nam;
b) Theo pháp luật của nước nơi người nước ngoài có
quốc tịch và cư trú tại một trong các nước mà họ có quốc tịch nếu họ có nhiều
quốc tịch nước ngoài.
Trường hợp người nước ngoài có nhiều quốc tịch và
cư trú ở nước mà không cùng với quốc tịch của nước đó thì theo pháp luật của
nước nơi người nước ngoài có thời gian mang quốc tịch dài nhất;
c) Theo pháp luật Việt Nam nếu người nước ngoài có
nhiều quốc tịch và một trong quốc tịch đó là quốc tịch Việt Nam hoặc người nước
ngoài có thẻ thường trú hoặc thẻ tạm trú tại Việt Nam.
2. Người nước ngoài có thể được công nhận có năng
lực hành vi tố tụng dân sự tại Tòa án Việt Nam, nếu theo quy định của pháp luật
nước ngoài thì họ không có năng lực hành vi tố tụng dân sự, nhưng theo quy định
của pháp luật Việt Nam thì họ có năng lực hành vi tố tụng dân sự.
Điều 467. Năng
lực pháp luật tố tụng dân sự của cơ quan, tổ chức nước ngoài, chi nhánh, văn
phòng đại diện tại Việt Nam của cơ quan, tổ chức nước ngoài và tổ chức quốc tế,
cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam, Nhà nước nước ngoài
1. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự của cơ quan,
tổ chức nước ngoài được xác định theo pháp luật của nước nơi cơ quan, tổ chức
đó được thành lập.
Năng lực pháp luật tố tụng dân sự của chi nhánh,
văn phòng đại diện tại Việt Nam của cơ quan, tổ chức nước ngoài được xác định
theo pháp luật Việt Nam.
2. Năng lực pháp luật tố tụng dân sự của tổ chức
quốc tế, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế được xác định trên cơ sở điều ước
quốc tế là căn cứ để thành lập tổ chức đó, quy chế hoạt động của tổ chức quốc
tế hoặc điều ước quốc tế mà
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Trường hợp tổ chức quốc tế tuyên bố từ bỏ quyền ưu
đãi,quyền miễn trừ thì năng lực pháp luật tố tụng dân sự của tổ chức
quốc tế đó được xác định theo pháp luật Việt Nam.
Điều 468. Bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người nước ngoài, cơ quan, tổ chức
nước ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam của cơ quan, tổ chức
nước ngoài, tổ chức quốc tế, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế
tại Việt Nam, Nhà nước nước ngoài
Đương sự là người nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước
ngoài, chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam của cơ quan, tổ chức nước
ngoài, tổ chức quốc tế, cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam, Nhà
nước nước ngoài tham gia tố tụng tại Tòa án Việt Nam có quyền tự mình hoặc nhờ luật sư, người khác bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Điều 469. Thẩm
quyền chung của Tòa án Việt Nam trong giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố
nước ngoài
1. Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết các vụ
việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong những trường hợp sau đây:
a) Bị đơn là cá nhân cư trú, làm ăn, sinh sống lâu
dài tại Việt Nam;
b) Bị đơn là cơ quan, tổ chức có trụ sở tại Việt Nam hoặc bị đơn là cơ quan, tổ chức có chi
nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam đối với các vụ việc liên quan đến hoạt
động của chi nhánh, văn phòng đại diện của cơ quan, tổ chức đó tại Việt Nam;
c) Bị đơn có tài sản trên lãnh thổ Việt Nam;
d) Vụ việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công
dân Việt Nam hoặc các đương sự là người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống
lâu dài tại Việt Nam;
đ) Vụ việc về quan hệ dân sự mà việc xác lập, thay
đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở Việt Nam, đối tượng của quan hệ đó là tài sản
trên lãnh thổ Việt Nam hoặc công việc được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam;
e) Vụ việc về quan hệ dân sự mà việc xác lập, thay
đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng có liên quan
đến quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc có trụ sở, nơi cư trú tại Việt
Nam.
2. Sau khi xác định thẩm quyền của Tòa án Việt Nam
theo quy định của Chương này, Tòa án áp dụng các quy định tại Chương III của Bộ
luật này để xác định thẩm quyền của Tòa án cụ thể giải quyết vụ việc dân sự có
yếu tố nước ngoài.
Điều 470. Thẩm
quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam
1. Những vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài sau đây
thuộc thẩm quyền giải quyết riêng biệt của Tòa án Việt Nam:
a) Vụ án dân sự đó có liên quan đến quyền đối với
tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam;
b) Vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với công dân
nước ngoài hoặc người không quốc tịch, nếu cả hai vợ chồng cư trú, làm ăn, sinh
sống lâu dài ở Việt Nam;
c) Vụ án dân sự khác mà các bên được lựa chọn Tòa
án Việt Nam để giải quyết theo pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là thành viên và các bên đồng ý lựa chọn Tòa án Việt Nam.
2. Những việc dân sự có yếu tố nước ngoài sau đây
thuộc thẩm quyền giải quyết riêng biệt của Tòa án Việt Nam:
a) Các yêu cầu không có tranh chấp phát sinh từ
quan hệ pháp luật dân sự quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Yêu cầu xác định một sự kiện pháp lý xảy ra trên
lãnh thổ Việt Nam;
c) Tuyên bố công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài
cư trú tại Việt Nam bị mất tích, đã chết nếu việc tuyên bố đó có liên quan đến
việc xác lập quyền, nghĩa vụ của họ trên lãnh thổ Việt Nam, trừ trường hợp điều
ước quốc tế mà Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác;
d) Tuyên bố người nước ngoài cư trú tại Việt Nam bị
hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất năng lực hành vi dân sự nếu việc tuyên bố
đó có liên quan đến việc xác lập quyền, nghĩa vụ của họ trên lãnh thổ Việt Nam;
đ) Công
nhận tài sản có trên lãnh thổ Việt Nam là vô chủ, công nhận quyền sở hữu của người đang
quản lý đối với tài sản vô chủ trên lãnh thổ Việt Nam.
Điều 471. Không
thay đổi thẩm quyền giải quyết của Tòa án
Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài đã được một Tòa
án Việt Nam thụ lý giải quyết theo quy định về thẩm quyền của Bộ luật này thì
phải được Tòa án đó tiếp tục giải quyết mặc dù trong quá trình giải quyết có sự
thay đổi quốc tịch, nơi cư trú, địa chỉ của các đương sự hoặc có tình tiết mới
làm cho vụ việc dân sự đó thuộc thẩm quyền của Tòa án khác của Việt Nam hoặc
của Tòa án nước ngoài.
Điều 472. Trả
lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự có yếu
tố nước ngoài trong trường hợp đã có thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận lựa chọn
Tòa án nước ngoài hoặc đã có Tòa án nước ngoài, Trọng tài hoặc cơ quan khác có thẩm
quyền của nước ngoài giải quyết hoặc đương sự được hưởng quyền miễn
trừ tư pháp
1. Tòa án Việt Nam phải trả lại đơn khởi kiện, đơn
yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài nếu vụ
việc dân sự thuộc thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam nhưng thuộc một trong
các trường hợp sau đây:
a) Các đương sự được thỏa thuận lựa chọn phương
thức giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật áp dụng đối với quan hệ
dân sự có yếu tố nước ngoài và đã lựa chọn Trọng tài hoặc Tòa án nước ngoài
giải quyết vụ việc đó.
Trường hợp các bên thay đổi thỏa thuận lựa chọn
Trọng tài hoặc Tòa án nước ngoài bằng thỏa thuận lựa chọn Tòa án Việt Nam hoặc thỏa thuận lựa
chọn Trọng tài hoặc Tòa
án nước ngoài bị vô hiệu hoặc không thể thực hiện được, hoặc Trọng tài
hoặc Tòa án nước ngoài từ chối thụ lý đơn thì Tòa án Việt Nam vẫn có thẩm quyền giải quyết;
b) Vụ việc không thuộc thẩm quyền riêng biệt của
Tòa án Việt Nam quy định tại Điều 470 của Bộ luật này và vụ việc thuộc thẩm
quyền riêng biệt của Tòa án nước ngoài có liên quan;
c) Vụ việc không thuộc thẩm quyền riêng biệt của
Tòa án Việt Nam quy định tại Điều 470 của Bộ luật này và đã được Trọng tài hoặc
Tòa án nước ngoài thụ lý giải quyết;
d) Vụ việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết
định của Tòa án nước ngoài hoặc phán quyết của Trọng tài.
Trường
hợp bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước
ngoài không được Tòa án Việt Nam công nhận thì Tòa án Việt Nam vẫn có thẩm
quyền giải quyết vụ việc đó;
đ) Bị đơn được hưởng quyền miễn trừ tư pháp.
2. Trường hợp trả lại đơn hoặc đình chỉ giải quyết
vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều này thì tiền tạm ứng án phí, lệ phí được xử lý theo quy định của Bộ luật này.
Điều 473. Yêu
cầu cung cấp thông tin về nhân thân, xác định địa chỉ của đương sự ở nước ngoài
1. Người khởi kiện, người yêu cầu phải ghi đầy đủ
họ, tên, địa chỉ, quốc tịch của đương sự ở nước ngoài trong đơn khởi kiện, đơn
yêu cầu kèm theo giấy tờ, tài liệu xác thực họ, tên, địa chỉ, quốc tịch của
đương sự đó.
Trường hợp không ghi đầy đủ họ, tên, địa chỉ, quốc
tịch của đương sự ở nước
ngoài hoặc thiếu những nội dung trên thì phải bổ sung trong thời hạn do Tòa án
ấn định, hết thời hạn đó mà không cung cấp được thì Tòa án trả lại đơn khởi
kiện, đơn yêu cầu.
2. Trường hợp không xác định được địa chỉ của đương
sự ở nước ngoài thì người khởi kiện, người yêu cầu có thể yêu cầu Tòa án Việt
Nam đề nghị cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài xác định địa chỉ của đương sự
hoặc có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú hoặc
yêu cầu Tòa án Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài tuyên bố
đương sự mất tích hoặc đã chết theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc pháp
luật nước ngoài hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên.
Trường hợp cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài trả
lời cho Tòa án Việt Nam không xác định được địa chỉ của đương sự ở nước ngoài
hoặc sau 06 tháng
mà không có trả lời thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu.
Điều 474. Các
phương thức tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước
ngoài
1. Tòa án thực hiện việc tống đạt,
thông báo văn bản tố tụng của Tòa án theo một trong các phương thức sau đây:
a) Theo phương thức được quy định
tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là thành viên;
b) Theo đường ngoại giao đối với
đương sự cư trú ở nước mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế;
c) Theo đường dịch vụ bưu
chính đến địa chỉ của đương sự đang cư trú ở nước ngoài với
điều kiện pháp luật nước đó đồng ý với phương thức tống đạt này;
d) Theo đường dịch vụ bưu
chính đến cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam ở nước ngoài để tống đạt cho đương sự là công dân Việt Nam ở nước
ngoài;
đ) Đối với cơ quan, tổ chức nước
ngoài có văn phòng đại diện, chi nhánh tại Việt Nam thì việc tống đạt có thể
được thực hiện qua văn phòng đại diện, chi nhánh của họ tại Việt Nam theo quy
định của Bộ luật này;
e) Theo đường dịch vụ bưu
chính cho người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo
ủy quyền tại Việt Nam của đương sự ở nước ngoài.
2. Các phương thức tống đạt quy
định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này được thực hiện theo pháp luật tương
trợ tư pháp.
3. Trường hợp các phương thức tống đạt quy
định tại khoản 1 Điều này thực hiện không có kết
quả thì Tòa án tiến
hành niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan đại
diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, Tòa án đang
giải quyết vụ việc hoặc tại nơi cư trú cuối cùng của đương sự tại Việt
Nam trong thời hạn 01 tháng và thông báo trên
Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có), Cổng
thông tin điện tử của cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
ở nước ngoài; trường hợp cần thiết, Tòa án có thể thông báo qua kênh dành cho
người nước ngoài của Đài
phát thanh hoặc Đài truyền hình của trung ương ba lần trong 03 ngày liên tiếp.
Điều 475. Thu thập chứng cứ ở nước ngoài
Tòa án thực hiện thu thập chứng cứ ở nước ngoài
theo một trong các phương thức sau đây:
1. Theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 1
Điều 474 của Bộ luật này;
2. Theo đường dịch vụ bưu chính yêu cầu đương sự là
công dân Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài gửi giấy tờ, tài liệu, chứng cứ cho
Tòa án Việt Nam.
Điều 476. Thông
báo về việc thụ lý, ngày mở phiên họp, phiên tòa
1. Tòa án phải gửi thông báo thụ lý
vụ án, trong đó nêu rõ thời gian, địa điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao
nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải (sau đây gọi chung là phiên họp hòa giải), mở lại phiên
họp hòa giải, mở phiên tòa và mở lại phiên tòa trong văn bản thông báo thụ lý
vụ án cho
đương sự ở nước ngoài.
2. Thời hạn mở phiên tòa, phiên họp
hòa giải được xác định như sau:
a) Phiên họp hòa giải phải được mở
sớm nhất là 06 tháng và chậm nhất là 08 tháng, kể từ ngày ra văn bản thông báo
thụ lý vụ án. Ngày mở lại phiên họp hòa giải (nếu có) được ấn định cách ngày mở
phiên họp hòa giải chậm nhất là 01 tháng;
b) Phiên tòa phải được mở sớm nhất là
09 tháng và chậm nhất là 12 tháng, kể từ ngày ra văn bản thông báo thụ lý vụ
án. Ngày mở lại phiên tòa (nếu có) được ấn định cách ngày mở phiên tòa chậm
nhất là 01 tháng, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 477 của Bộ luật này.
3. Tòa án phải gửi thông báo thụ lý
việc dân sự, trong đó nêu rõ thời gian, địa điểm mở phiên họp, mở lại phiên
họp giải quyết việc dân
sự trong văn bản thông báo thụ lý việc dân sự cho đương sự ở nước ngoài.
Phiên họp phải được mở sớm nhất là
06 tháng và chậm nhất là 08 tháng, kể từ ngày ra văn bản thông báo thụ lý việc
dân sự. Ngày mở lại phiên họp giải quyết việc dân sự (nếu có) được ấn định cách
ngày mở phiên họp lần đầu chậm nhất là 01 tháng.
Điều 477. Xử lý kết quả tống đạt văn bản tố tụng của
Tòa án cho đương sự ở nước ngoài và kết quả yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của
nước ngoài thu thập chứng cứ
Khi nhận được kết quả tống đạt và kết quả thu thập
chứng cứ ở nước ngoài, tùy từng trường hợp cụ thể mà Tòa án xử lý như sau:
1. Không mở phiên họp hòa giải khi đã nhận được kết
quả tống đạt theo một trong các phương thức quy định tại khoản 1 Điều 474 của
Bộ luật này, đương
sự đã cung cấp đầy đủ lời khai, tài liệu, chứng cứ và vụ án dân sự thuộc trường hợp không
tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 207 của Bộ luật này;
2. Hoãn phiên họp hòa giảinếu đã nhận được
thông báo về việc tống đạt đã hoàn thành nhưng đến ngày mở phiên họp hòa giải
mà Tòa án vẫn không nhận được lời khai, tài liệu, chứng cứ của đương sự và họ
không đề nghị được vắng mặt tại phiên họp hòa giải. Nếu đến ngày mở lại phiên
họp hòa giải mà đương sự ở nước ngoài vẫn vắng mặt thì Tòa án xác định đây là
trường hợp không tiến hành hòa giải được;
3. Tòa án hoãn phiên tòa trong các trường hợp sau
đây:
a) Đương sự ở nước ngoài đề nghị hoãn phiên tòa lần
thứ nhất;
b) Đương sự ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa lần
thứ nhất, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;
4. Tòa án không nhận được văn bản thông báo về kết
quả tống đạt cũng như lời khai, tài liệu, chứng cứ của đương sự ở nước ngoài và
đến ngày mở phiên tòa đương sự ở nước ngoài không có mặt, không có đơn đề nghị
Tòa án xét xử vắng mặt họ thì Tòa án hoãn phiên tòa. Ngay sau khi hoãn phiên
tòa thì Tòa án có văn bản đề nghị Bộ Tư pháp hoặc cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài thông báo về việc thực hiện tống đạt văn bản tố
tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài trong trường hợp Tòa án thực hiện
việc tống đạt thông qua các cơ quan này theo một trong các phương thức quy định
tại các điểm a,
b và d khoản
1 Điều 474 của Bộ luật này.
Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được văn bản của Tòa
án, cơ quan đại diện nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài phải thông báo cho Tòa án
về kết quả thực hiện việc tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự ở nước ngoài.
Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Bộ Tư pháp nhận
được văn bản của Tòa án, Bộ Tư pháp phải có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm
quyền ở nước ngoài trả lời về kết quả thực hiện ủy thác tư pháp.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận
được văn bản của cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài gửi về thì Bộ Tư pháp phải
trả lời cho Tòa án.
Hết thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chuyển văn bản
của Tòa án cho cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài mà không nhận được văn bản
trả lời thì Bộ Tư pháp phải thông báo cho Tòa án biết để làm căn cứ giải quyết
vụ án;
5. Tòa án xét xử vắng mặt đương sự ở nước ngoài
trong các trường hợp sau đây:
a) Tòa án đã nhận được kết quả tống đạt theo một
trong các phương thức tống đạt quy định tại khoản 1 Điều 474 của Bộ luật này,
đương sự đã cung cấp đầy đủ lời khai, tài liệu, chứng cứ và đương sự đề nghị
Tòa án xét xử vắng mặt họ;
b) Tòa án đã thực hiện các biện pháp quy định tại
khoản 3 Điều 474 của Bộ luật này;
c) Tòa án không nhận được thông báo của cơ quan có
thẩm quyền theo quy định tại khoản 4 Điều này về kết quả thực hiện việc tống
đạt cho đương sự ở nước ngoài;
6. Nếu Tòa án nhận được văn bản thông báo về việc
tống đạt không thực hiện được do họ, tên, địa chỉ của đương sự không đúng hoặc đương sự
đã chuyển đến địa chỉ mới nhưng không rõ địa chỉ mới thì Tòa án giải quyết như
sau:
a) Tòa án yêu cầu nguyên đơn và người thân thích
trong nước của đương sự ở nước ngoài (nếu có) cung cấp địa chỉ đúng hoặc địa
chỉ mới của đương sự ở nước ngoài. Tòa án tiếp tục tống đạt thông báo thụ lý
cho đương sự ở nước ngoài theo địa chỉ do nguyên đơn, người thân thích trong
nước của đương sự ở nước ngoài cung cấp;
b) Nếu nguyên đơn, người thân thích trong nước của
đương sự không cung cấp được hoặc người thân thích trong nước của đương sự từ
chối cung cấp địa chỉ đúng hoặc địa chỉ mới của đương sự ở nước ngoài hoặc
đương sự ở nước ngoài không có người thân thích ở Việt Nam thì Tòa án ra quyết
định đình chỉ việc giải quyết vụ án. Đồng thời, Tòa án giải thích cho người khởi kiện
biết quyền yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm đương sự vắng mặt tại nơi cư trú
hoặc yêu cầu Tòa án tuyên bố đương sự mất tích hoặc đã chết;
c) Trường hợp nguyên đơn là công dân Việt Nam yêu
cầu ly hôn với người nước ngoài đang cư trú ở nước ngoài mà không thể thực hiện
việc cung cấp đúng họ, tên,
địa chỉ hoặc địa chỉ mới của người nước ngoài theo yêu cầu của Tòa án mặc dù
nguyên đơn, thân nhân của họ hoặc cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc của
nước ngoài đã tiến hành xác minh tin tức, địa chỉ của người nước ngoài đó nhưng
không có kết quả thì nguyên đơn yêu cầu Tòa án thông báo trên Cổng
thông tin điện tử của Tòa án (nếu có), Cổng thông tin điện tử của cơ quan
đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài; trường hợp cần
thiết, theo yêu cầu của nguyên đơn, Tòa án có thể thông báo qua kênh dành cho
người nước ngoài của Đài
phát thanh hoặc Đài truyền hình của trung ương ba lần trong 03 ngày liên tiếp.
Trong trường hợp này, Tòa án không phải tống đạt
lại văn bản tố tụng cho đương sự ở nước ngoài. Hết thời hạn 01 tháng, kể từ ngày
đăng thông báo, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.
Điều 478. Công
nhận giấy tờ, tài liệu do cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài gửi cho Tòa án
Việt Nam
1. Tòa án Việt Nam công nhận giấy tờ, tài liệu do
cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nước ngoài lập, cấp, xác nhận trong các trường hợp sau:
a) Giấy tờ, tài liệu và bản dịch tiếng Việt có công
chứng, chứng thựcđã được hợp pháp hoá lãnh sự;
b) Giấy tờ, tài liệu đó được miễn hợp pháp hóa lãnh
sự theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
2. Tòa án Việt Nam công nhận giấy tờ, tài liệu do
cá nhân cư trú ở nước ngoài lập trong các trường hợp sau đây:
a) Giấy tờ, tài liệu lập bằng tiếng nước ngoài đã
được dịch ra tiếng Việt có công chứng, chứng thực hợp pháp theo quy định của
pháp luật Việt Nam;
b) Giấy tờ, tài liệu được lập ở nước ngoài được
công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật nước ngoài và đã được hợp
pháp hóa lãnh sự;
c) Giấy tờ, tài liệu do công dân Việt Nam ở nước ngoài lập bằng
tiếng Việt có chữ ký của người lập giấy tờ, tài liệu đó và đã được công chứng, chứng thực theo
quy định của pháp luật Việt Nam.
Điều 479. Thời
hạn kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án xét xử vụ án dân sự có yếu tố nước
ngoài
1. Đương sự có mặt tại Việt Nam có quyền kháng cáo
bản án, quyết định của Tòa án trong thời hạn quy định tại Điều 273 của Bộ luật
này.
2. Đương sự cư trú ở nước ngoài không có mặt tại
phiên tòa thì thời hạn kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án là 01 tháng, kể từ ngày
bản án, quyết định được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án, quyết định được
niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
3. Trường hợp Tòa án xét xử vắng mặt đương sự ở
nước ngoài theo quy định tại điểm c khoản 5 Điều 477 của Bộ luật này thì thời
hạn kháng cáo là 12 tháng, kể từ ngày tuyên án.
Điều 480. Tống
đạt, thông báo văn bản tố tụng và xử lý kết quả tống đạt, thông báo văn bản tố
tụng của Tòa án cấp phúc thẩm cho đương sự ở nước ngoài
Tòa án cấp phúc thẩm thực hiện việc tống đạt, thông
báo văn bản tố tụng xử lý kết quả tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho đương
sự ở nước ngoài theo quy định tại các điều 474, 476 và 477 của Bộ luật này.
Điều 481. Xác
định và cung cấp pháp luật nước ngoài để Tòa án áp dụng trong việc giải quyết
vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài
Trường hợp Tòa án Việt Nam áp dụng pháp luật nước
ngoài để giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài theo quy định của luật
Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên thì trách nhiệm
xác định và cung cấp pháp luật nước ngoài được thực hiện như sau:
1. Trường hợp đương sự được quyền lựa chọn pháp
luật áp dụng là pháp luật nước ngoài và đã lựa chọn áp dụng pháp luật nước
ngoài đó thì có nghĩa vụ cung cấp pháp luật nước ngoài đó cho Tòa án đang giải
quyết vụ việc dân sự. Các đương sự chịu trách nhiệm về tính chính xác và hợp
pháp của pháp luật nước ngoài đã cung cấp.
Trường hợp các đương sự không thống nhất được với nhau về pháp
luật nước ngoài hoặc trong trường hợp cần thiết, Tòa án yêu cầu Bộ Tư pháp, Bộ
ngoại giao, cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước
ngoài hoặc thông qua Bộ ngoại giao đề nghị cơ quan đại diện ngoại giao của nước
ngoài tại Việt Nam cung cấp pháp luật nước ngoài;
2. Trường hợp luật của Việt Nam, điều ước quốc tế mà
Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là thành viên quy định phải áp dụng pháp luật
nước ngoài thì đương sự có quyền cung cấp pháp luật nước ngoài cho Tòa án hoặc
Tòa án yêu cầu Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao hoặc cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài cung cấp pháp luật nước ngoài;
3. Tòa án có thể yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân
có chuyên môn về pháp luật nước ngoài cung cấp thông tin về pháp luật nước
ngoài;
4. Hết thời hạn 06 tháng, kể từ ngày Tòa án yêu cầu cung cấp pháp luật nước ngoài
theo quy định tại Điều này mà không có kết quả thì Tòa án áp dụng pháp luật của
Việt Nam để giải quyết vụ việc dân sự đó.
Phần thứ chín. THI HÀNH BẢN
ÁN, QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN
Chương XXXIX. THI HÀNH BẢN
ÁN, QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN
Điều 482. Những
bản án, quyết định của Tòa án được thi hành
1. Bản án, quyết định dân sự của Tòa án được thi hành là bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, bao gồm:
a) Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định
của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm;
b) Bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm;
c) Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa
án; quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định tại Điều
360 của Bộ luật
này;
d) Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài,
phán quyết của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho
thi hành tại Việt Nam.
2. Những bản án, quyết định sau đây của Tòa án cấp
sơ thẩm được thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, khiếu nại, kháng nghị, kiến nghị:
a) Bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả công lao
động, nhận người lao động trở lại làm việc, trả lương, trợ cấp thôi việc, trợ
cấp mất sức lao động, trợ cấp mất việc làm, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất
nghiệp, bảo hiểm y tế hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tổn
thất tinh thần của công dân; quyết định về tính hợp pháp của cuộc đình công;
b) Quyết định về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Điều 483. Ghi
nhận và giải thích về quyền yêu cầu thi hành án dân sự
1. Trường hợp trong bản án, quyết định của Tòa án
có quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật này thì trong phần
quyết định của bản án, quyết định của Tòa án phải ghi rõ nội dung về quyền yêu
cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án.
2. Khi ra bản án, quyết định, Tòa án phải giải
thích rõ cho đương sự biết về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án,
thời hiệu yêu cầu thi hành án theo quy định của Luật thi hành án dân sự.
Điều 484. Cấp
bản án, quyết định của Tòa án
Khi bản án, quyết định của Tòa án thuộc trường hợp
được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật này thì Tòa án đã ra bản án, quyết
định đó phải cấp cho người được thi hành án và người phải thi hành án bản án
hoặc quyết định đó có ghi “để thi hành”.
Điều 485. Thời
hạn chuyển giao bản án, quyết định
1. Tòa án đã ra bản án, quyết định quy định tại
khoản 1 Điều 482 của Bộ luật này phải chuyển giao bản án, quyết định đó cho cơ
quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày
bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định
khác.
2. Tòa án đã ra bản án, quyết định quy định tại
điểm a khoản 2 Điều 482 của Bộ luật này phải chuyển giao bản án, quyết định đó
cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày
ra bản án, quyết định.
3. Tòa án đã ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời, quyết
định về tính hợp pháp của cuộc đình công phải chuyển giao quyết định đó
cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ngay sau khi ra quyết định.
4. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền đã kê biên tài
sản, tạm giữ tài sản, thu giữ vật chứng hoặc thu giữ các tài liệu khác có liên
quan đến việc thi hành án thì khi chuyển giao bản án, quyết định cho cơ quan
thi hành án dân sự, Tòa án phải gửi kèm theo bản sao biên bản về việc kê biên,
tạm giữ tài sản, thu giữ vật chứng hoặc tài liệu khác có liên quan.
Điều 486. Giải
thích, sửa chữa bản án, quyết định của Tòa án
1. Người được thi hành án, người phải thi hành án,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định của
Tòa án và cơ quan thi hành án có quyền yêu cầu bằng văn bản Tòa án đã ra bản
án, quyết định, giải thích, sửa chữa những điểm chưa rõ trong bản án, quyết
định để thi hành.
2. Thẩm phán đã ra quyết định hoặc Thẩm phán là chủ
tọa phiên tòa có
trách nhiệm giải thích, sửa chữa những điểm chưa rõ trong bản án, quyết định
của Tòa án. Trường hợp họ không còn là Thẩm phán của Tòa án thì Chánh án Tòa án
đó có trách nhiệm giải thích, sửa chữa bản án, quyết định của Tòa án.
3. Việc giải thích bản án, quyết định của Tòa án
phải căn cứ vào biên bản phiên tòa, biên bản phiên họp, biên bản nghị
án. Việc sửa chữa bản án,
quyết định được thực hiện theo quy định tại Điều 268 của Bộ luật
này.
Điều 487. Giải
quyết yêu cầu, kiến nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án
Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự kiến nghị về
việc xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái
thẩm thì Tòa án có thẩm quyền phải trả lời trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày nhận được kiến nghị; trường hợp vụ
việc phức tạp thì thời hạn trả lời không quá 04 tháng, kể từ ngày nhận được văn bản kiến nghị.
Điều 488. Thẩm
quyền, thủ tục xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân
sách nhà nước của Tòa án
1. Thẩm quyền xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án
đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước của Tòa án được xác định như sau:
a) Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cơ quan thi hành
án dân sự đang tổ chức việc thi hành án có trụ sở, có thẩm quyền xét đề nghị
việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước;
b) Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xem xét
theo thủ tục phúc thẩm đối với quyết định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối
với khoản thu nộp ngân sách nhà nước của Tòa án bị Viện kiểm sát kháng nghị;
c) Tòa án nhân dân cấp cao có thẩm quyền xem xét
theo thủ tục tái thẩm quyết định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đã có hiệu lực
pháp luật của Tòa án trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị.
2. Trình tự, thủ tục xét miễn, giảm nghĩa vụ thi
hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước được thực hiện theo quy định
của Luật thi hành án dân sự.
Phần thứ mười. XỬ LÝ HÀNH VI
CẢN TRỞ HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG DÂN SỰ; KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
Chương XL. XỬ LÝ HÀNH VI
CẢN TRỞ HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG DÂN SỰ
Điều 489. Xử lý
hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của người tiến hành tố
tụng
Người nào có một trong các hành vi sau đây thì tuỳ
theo tính chất, mức độ vi phạm mà có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính
hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật:
1. Làm giả, hủy hoại chứng cứ quan trọng gây trở
ngại cho việc giải quyết vụ án của Tòa án;
2. Từ chối khai báo, khai báo gian dối hoặc cung
cấp tài liệu sai sự thật khi
làm chứng;
3. Từ chối kết luận giám định hoặc từ chối cung cấp
tài liệu mà không có lý do chính đáng, kết luận giám định sai sự thật;
4. Cố ý
dịch sai sự thật;
5. Không
cử người tham gia Hội đồng định giá theo yêu cầu của Tòa án mà không có lý do
chính đáng; không tham gia thực hiện nhiệm vụ của Hội đồng định giá mà không có
lý do chính đáng;
6. Cản
trở người tiến hành tố tụng tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, định giá, giám
định hoặc xác minh, thu thập chứng cứ khác do Bộ luật này quy định;
7. Lừa
dối, mua chuộc, đe dọa, cưỡng ép, sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản người làm chứng
ra làm chứng hoặc buộc người khác ra làm chứng gian dối;
8. Lừa
dối, mua chuộc, đe dọa, cưỡng ép, sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản người giám định
thực hiện nhiệm vụ hoặc buộc người giám định kết luận sai với sự thật khách
quan;
9. Lừa
dối, mua chuộc, đe dọa, cưỡng ép, sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản người phiên dịch
thực hiện nhiệm vụ hoặc buộc người phiên dịch dịch không trung thực, không
khách quan, không đúng nghĩa.
Điều 490. Xử lý
hành vi cố ý không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án
1. Người làm chứng, người phiên dịch, người giám định đã được
Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng cố ý không đến Tòa án hoặc không có mặt tại phiên
tòa, phiên họp mà
không có lý do chính đáng và nếu sự vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc thu
thập, xác minh chứng cứ hoặc giải quyết vụ việc thì bị xử phạt hành chính theo quy định
của pháp luật.
2. Trong trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án có quyền
ra quyết định dẫn giải người làm chứng đến phiên tòa, phiên họp, trừ trường hợp người
làm chứng là người chưa thành niên. Quyết định dẫn giải người làm chứng
phải ghi rõ thời gian, địa điểm ra quyết định; họ, tên, chức vụ người ra quyết
định; họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người làm chứng; thời
gian, địa điểm người làm chứng phải có mặt.
3. Cơ quan công an có nhiệm vụ thi hành quyết định
của Tòa án dẫn giải người làm chứng. Người thi hành quyết định dẫn giải người
làm chứng phải đọc, giải thích quyết định dẫn giải cho người bị dẫn giải biết
và lập biên bản về việc dẫn giải.
Điều 491. Xử lý
hành vi vi phạm nội quy phiên tòa
1. Người có hành vi vi phạm nội quy phiên tòa quy
định tại Điều 234 của Bộ luật này thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà có
thể bị chủ tọa phiên tòa xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật.
2. Chủ tọa phiên tòa có quyền ra quyết định buộc
người vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này rời khỏi phòng xử án. Cơ quan công
an có nhiệm vụ bảo vệ phiên tòa hoặc người có nhiệm vụ bảo vệ trật tự phiên tòa
thi hành quyết định của chủ tọa phiên tòa về việc buộc rời khỏi phòng xử án
hoặc tạm giữ hành chính người gây rối trật tự tại phiên tòa.
3. Trường hợp người vi phạm nội quy phiên tòa đến
mức phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì Tòa án có quyền khởi tố vụ án hình
sự theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự.
4. Quy định tại Điều này cũng được áp dụng đối với
người có hành vi vi phạm tại phiên họp của Tòa án.
Điều 492. Xử lý
hành vi xúc phạm, xâm hại đến sự tôn nghiêm, uy tín của Tòa án, danh dự, nhân
phẩm, sức khoẻ của người tiến hành tố tụng hoặc những người khác thực hiện
nhiệm vụ theo yêu cầu của Tòa án
Người có hành vi xúc phạm, xâm hại đến sự tôn
nghiêm, uy tín của Tòa án, danh dự, nhân phẩm, sức khỏe của người tiến hành tố tụng hoặc
những người khác thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu của Tòa án thì tuỳ theo tính
chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình
sự theo quy định của pháp luật.
Điều 493. Xử lý
hành vi cản trở việc cấp, giao, nhận, tống đạt, thông
báo văn bản tố tụng của Tòa án
Người có một trong các hành vi sau đây thì tuỳ theo
tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy
cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật:
1. Không thực hiện việc cấp, giao, tống đạt, thông báo văn
bản tố tụng của Tòa án theo yêu cầu của Tòa án mà không có lý do chính đáng;
2. Hủy hoại văn bản tố tụng của Tòa án mà mình được
giao để cấp, tống đạt, thông
báo theo yêu cầu của Tòa án;
3. Giả mạo kết quả thực hiện việc tống đạt, thông
báo văn bản tố tụng của Tòa án mà mình được giao thực hiện;
4. Ngăn cản việc cấp, giao, nhận, tống đạt, thông báo văn
bản tố tụng của Tòa án.
Điều 494. Xử lý
hành vi cản trở đại diện của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân tham gia tố tụng
theo yêu cầu của Tòa án
Người có hành vi đe dọa, hành hung hoặc lợi dụng sự
lệ thuộc nhằm cản trở đại diện của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân đến phiên tòa, phiên họp
theo triệu tập của Tòa án thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt
hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Điều 495. Xử lý
hành vi không thi hành quyết định của Tòa án về việc cung cấp tài liệu, chứng
cứ cho Tòa án hoặc đưa tin sai sự thật nhằm cản trở việc giải quyết vụ án của
Tòa án
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thi hành quyết
định của Tòa án về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ mà cơ quan, tổ chức, cá nhân
đó đang quản lý, lưu giữ thì có thể bị Tòa án xử phạt hành chính theo quy định
của pháp luật.
2. Người có hành vi đưa tin sai sự thật nhằm cản
trở Tòa án giải quyết vụ án thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử
phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp
luật.
Điều 496. Xử lý
hành vi can thiệp vào việc giải quyết vụ việc dân sự
Người nào bằng ảnh hưởng của mình có hành vi tác
động dưới bất kỳ hình thức nào đối với Thẩm phán, thành viên Hội đồng xét xử
nhằm làm cho việc giải quyết vụ việc không khách quan, không đúng pháp luật thì
tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc
bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Điều 497. Trách
nhiệm của Tòa án, Viện kiểm sát trong trường hợp Tòa án khởi tố vụ án hình sự
1. Trường hợp Tòa án khởi tố vụ án hình sự theo quy
định tại khoản 3 và
khoản 4 Điều 491 của Bộ luật này thì trong thời hạn 15 ngày, kể
từ ngày ra quyết định khởi tố, Tòa án phải chuyển cho Viện kiểm sát có thẩm
quyền quyết định khởi tố vụ án và tài liệu, chứng cứ để chứng minh hành vi phạm
tội.
2. Viện kiểm sát có trách nhiệm xem xét, xử lý theo
quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Điều 498. Hình
thức xử phạt, thẩm quyền, trình tự, thủ tục, xử phạt
Hình thức xử phạt, thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử
phạt hành chính đối với các hành vi cản trở hoạt động tố tụng dân sự được thực
hiện theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính và pháp luật có liên quan.
Chương XLI. KHIẾU NẠI, TỐ
CÁO TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
Điều 499. Quyết
định, hành vi trong tố tụng dân sự có thể bị khiếu nại
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại
quyết định, hành vi trong tố tụng dân sự của cơ quan, người tiến hành tố tụng
dân sự khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm
phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
2. Đối với bản án, quyết định sơ thẩm, phúc thẩm,
giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nếu có kháng cáo, kháng nghị và các quyết
định tố tụng khác do người tiến hành tố tụng dân sự ban hành nếu có khiếu nại,
kiến nghị thì không giải quyết theo quy định của Chương này mà được giải quyết
theo quy định của các chương tương ứng của Bộ luật này.
Điều 500.
Quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại
1. Người khiếu nại có các quyền sau đây:
a) Tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp
khiếu nại;
b) Khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào của quá
trình giải quyết vụ án;
c) Rút khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào của quá
trình giải quyết
khiếu nại;
d) Được nhận văn bản trả lời về việc thụ lý để giải
quyết khiếu nại; nhận quyết định giải quyết khiếu nại;
đ) Được khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp đã bị
xâm phạm, được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
2. Người khiếu nại có các nghĩa vụ sau đây:
a) Khiếu nại đến đúng người có thẩm quyền giải
quyết;
b) Trình bày trung thực sự việc, cung cấp thông
tin, tài liệu cho người giải quyết khiếu nại; chịu trách nhiệm trước pháp luật
về nội dung trình bày và việc cung cấp thông tin, tài liệu đó;
c) Không được lạm dụng quyền khiếu nại để cản trở
hoạt động tố tụng của Tòa án;
d) Chấp hành quyết định, hành vi của người tiến
hành tố tụng mà mình đang khiếu nại trong thời gian khiếu nại;
đ) Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết
khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật.
Điều 501.
Quyền, nghĩa vụ của người bị khiếu nại
1. Người bị khiếu nại có các quyền sau đây:
a) Được biết các căn cứ khiếu nại của người khiếu
nại; đưa ra bằng chứng về tính hợp pháp của quyết định, hành vi trong tố tụng
bị khiếu nại;
b) Được nhận quyết định giải quyết khiếu nại về
quyết định, hành vi trong tố tụng của mình.
2. Người bị khiếu nại có các nghĩa vụ sau đây:
a) Giải trình về quyết định, hành vi trong tố tụng
dân sự bị khiếu nại; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan khi cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu;
b) Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết
khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật;
c) Bồi thường thiệt hại, bồi hoàn hoặc khắc phục
hậu quả do quyết định, hành vi trong tố tụng dân sự trái pháp luật của mình gây
ra theo quy định của pháp luật.
Điều 502. Thời
hiệu khiếu nại
Thời hiệu khiếu nại là 15 ngày, kể từ ngày người
khiếu nại nhận được hoặc biết được quyết định, hành vi tố tụng mà người đó cho
rằng có vi phạm pháp luật.
Trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại
khách quan mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng
thời hạn quy định tại Điều này thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở
ngại khách quan đó không tính vào thời hiệu khiếu nại.
Điều 503. Hình
thức khiếu nại
Việc khiếu nại phải được thực hiện bằng đơn. Trong
đơn khiếu nại phải ghi rõ ngày, tháng, năm; họ, tên, địa chỉ của người khiếu
nại; nội dung, lý do khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại, có chữ ký hoặc
điểm chỉ của người khiếu nại.
Điều 504. Thẩm
quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi của người tiến hành tố
tụng
1. Khiếu nại quyết định, hành vi của người tiến
hành tố tụng là Thẩm phán, Phó Chánh án, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Hội thẩm
nhân dân do Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ việc dân sự có thẩm quyền giải
quyết.
Đối với khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của
Chánh án Tòa án thì Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp có thẩm quyền giải quyết.
2. Khiếu nại quyết định, hành vi của người tiến
hành tố tụng là Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát do Viện
trưởng Viện kiểm sát giải quyết.
Đối với khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của
Viện trưởng Viện kiểm sát thì Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có
thẩm quyền giải quyết.
3. Khiếu nại quyết định giải quyết khiếu nại lần
đầu của Chánh án Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát quy định tại khoản 1 và
khoản 2 Điều này do Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp
trên trực tiếp giải quyết.
Điều 505. Thời
hạn giải quyết khiếu nại
Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu là 15 ngày,
kể từ ngày Tòa án, Viện kiểm sát nhận được khiếu nại. Trường hợp cần thiết, đối
với vụ việc có tính chất phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể được
kéo dài nhưng không quá 15 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại.
Điều 506. Nội
dung quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu
1. Người giải quyết khiếu nại lần đầu phải ra quyết
định giải quyết khiếu nại bằng văn bản. Quyết định giải quyết khiếu nại phải có
các nội dung sau đây:
a)
Ngày, tháng, năm ra quyết định;
b)
Tên, địa chỉ của người khiếu nại, người bị khiếu nại;
c)
Nội dung khiếu nại;
d)
Kết quả xác minh nội dung khiếu nại;
đ)
Căn cứ pháp luật để giải quyết khiếu nại;
e)
Nội dung quyết định giải quyết khiếu nại.
2.
Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu phải được gửi cho người khiếu nại, cá
nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan; trường hợp là quyết định của Chánh án Tòa
án thì còn phải gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp.
Điều 507. Thủ tục giải quyết khiếu nại lần hai
1.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người khiếu nại nhận được quyết
định giải quyết khiếu nại lần đầu, nếu không đồng ý với quyết định đó thì có
quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai.
2.
Đơn khiếu nại phải kèm theo bản sao quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu và
các tài liệu kèm theo.
Đơn
khiếu nại phải ghi rõ ngày, tháng năm làm đơn; họ, tên, địa chỉ của người khiếu
nại; nội dung, lý do khiếu nại; có chữ ký hoặc điểm chỉ của người khiếu nại.
3.
Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai phải có các nội dung sau đây:
a)
Các nội dung quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 1 Điều 506 của Bộ luật
này;
b)
Kết quả giải quyết khiếu nại của người giải quyết khiếu nại lần đầu;
c)
Kết luận về từng vấn đề cụ thể trong nội dung khiếu nại của người khiếu nại và
việc giải quyết của người giải quyết khiếu nại lần hai.
4.
Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai phải được gửi cho người khiếu nại, cá
nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan; trường hợp là quyết định của Chánh án Tòa
án thì còn phải gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp.
5.
Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai có hiệu lực thi hành.
Điều 508. Giải quyết khiếu nại về hoạt động giám định
trong tố tụng dân sự
Việc
giải quyết khiếu nại về hoạt động giám định trong tố tụng dân sự được thực hiện theo quy định
của pháp luật về giám định tư
pháp và pháp luật có
liên quan.
Điều 509. Người
có quyền tố cáo
Cá nhân có quyền tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền về hành vi vi phạm pháp luật của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi
ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Điều 510.
Quyền, nghĩa vụ của người tố cáo
1. Người tố cáo có các quyền sau đây:
a) Gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan, tổ
chức, cá nhân có thẩm quyền;
b) Yêu cầu giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích
của mình;
c) Yêu cầu được thông báo kết quả giải quyết tố
cáo;
d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
bảo vệ khi bị đe dọa, trù dập, trả thù.
2. Người tố cáo có các nghĩa vụ sau đây:
a) Trình bày trung thực về nội dung tố cáo;
b) Nêu rõ họ, tên, địa chỉ của mình;
c) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc tố cáo
sai sự thật.
Điều 511.
Quyền, nghĩa vụ của người bị tố cáo
1. Người bị tố cáo có các quyền sau đây:
a) Được thông báo về nội dung tố cáo;
b) Đưa ra bằng chứng để chứng minh nội dung tố cáo
là không đúng
sự thật;
c) Được khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm
phạm; được phục hồi danh dự, được bồi thường thiệt hại do việc tố cáo không
đúng gây ra;
d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
xử lý người tố cáo sai sự thật.
2. Người bị tố cáo có các nghĩa vụ sau đây:
a) Giải trình về hành vi bị tố cáo; cung cấp thông
tin, tài liệu liên quan khi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu;
b) Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định xử lý của cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền;
c) Bồi thường thiệt hại, bồi hoàn hoặc khắc phục
hậu quả do hành vi tố tụng dân sự trái pháp luật của mình gây ra theo quy định
của pháp luật.
Điều 512. Thẩm
quyền và thời hạn giải quyết tố cáo
1. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người có
thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc cơ quan có thẩm quyền nào thì người đứng đầu
cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết.
Trường hợp người bị tố cáo là Chánh án, Phó Chánh
án Tòa án, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát thì Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp,
Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có trách nhiệm giải quyết.
Thời hạn giải quyết tố cáo là không quá 02 tháng, kể từ ngày
thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết tố cáo có thể dài hơn,
nhưng không quá 03
tháng.
2. Tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu
tội phạm được giải quyết theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Điều 513. Thủ
tục giải quyết tố cáo
Thủ tục giải quyết tố cáo được thực hiện theo quy
định của pháp luật về tố cáo.
Điều 514. Trách
nhiệm của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong
phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết kịp
thời, đúng pháp luật; xử lý nghiêm minh người vi phạm; áp dụng biện pháp cần
thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra; bảo đảm cho quyết định giải quyết
được thi hành nghiêm chỉnh và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết
định của mình.
2. Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo
mà không giải quyết, thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết, giải quyết trái
pháp luật thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc truy
cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định
của pháp luật.
Điều 515. Kiểm
sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố
tụng dân sự
Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng dân sự theo quy định của
pháp luật. Viện kiểm sát có quyền yêu cầu, kiến nghị đối với Tòa án cùng cấp và
cấp dưới, cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm để bảo đảm việc giải quyết
khiếu nại, tố cáo có căn cứ, đúng pháp luật.
Chương XLII. ĐIỀU KHOẢN THI
HÀNH
Điều 516. Sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động số 10/2012/QH13
1. Điều 51 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 51. Thẩm quyền tuyên bố hợp đồng lao động
vô hiệu
Tòa án nhân dân có quyền tuyên bố hợp đồng lao động
vô hiệu.”
2. Bãi bỏ các điều 223, 224, 225, 226, 227, 228,
229, 230, 231, 232 và 234 Mục 5 Chương XIV của Bộ luật lao động số
10/2012/QH13.
Điều 517. Hiệu
lực thi hành
1.
Bộ luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2016, trừ các quy
định sau đây của Bộ
luật này có liên quan đến quy định của Bộ luật dân sự số 91/2015/QH13 thì có
hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2017:
a)
Quy định liên quan đến việc Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự
vì lý do chưa có điều luật để áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 4, các điều 43,
44 và 45 của Bộ luật này;
b)
Quy định liên quan đến người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;
c)
Quy định liên quan đến áp dụng thời hiệu tại khoản 2 Điều 184 và điểm e khoản 1
Điều 217 của Bộ luật này;
d)
Quy định liên quan đến pháp nhân là người đại diện, người giám hộ.
2. Bộ luật tố
tụng dân sự số 24/2004/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 65/2011/QH12
hết hiệu lực kể từ ngày Bộ luật này có hiệu lực thi hành, trừ các quy định tại Điều 159 và
điểm h khoản 1 Điều 192 tiếp tục có hiệu lực thi hành đến hết ngày 31 tháng 12
năm 2016./.
TƯ VẤN & DỊCH VỤ |